Năm 1964, bố tôi đi bộ đội. Trong tâm thức của tôi giờ chỉ còn mang máng ngày tiễn bố tôi lên đường. Đêm trước, trong căn nhà tường đất, mái rạ, nhà tôi đón bà con họ mạc đến chơi. Dưới ánh đèn dầu bập bùng, mọi lời chúc đều mộc mạc, lặng lẽ, chân tình, mong bố tôi lên đường chân cứng, đá mềm và đất nước mau thống nhất để trở về quê hương. Sáng hôm sau, khi đi, bố bế tôi ra đến cổng. Từ hôm đó gia đình tôi chính thức thiếu vắng một lao động chính là bố tôi. Bốn chị em chúng tôi lớn lên trong vòng tay yêu thương của ông bà nội và người mẹ tảo tần.
Thời gian đầu bố đóng quân ở Gia Lâm, trong một đơn vị pháo. Và cũng chỉ một lần duy nhất, vào một ngày hè, tôi được ông nội cho cùng đi thăm bố. Tôi cũng không nhớ đi phương tiện gì, chỉ biết đến thăm bố thì bố đang ở nhà dân còn trận địa pháo thì gần đó. Tôi được các chú bộ đội cho ra trận địa và được trèo lên mâm pháo. Sau lần ấy, bố vào chiến trường.
Thời chiến, cả nước ra trận, người người “vào” trận. Tin tức chiến trường thì nghe qua đài ga-len. Điều mong mỏi nhất của các gia đình có người thân lên đường chống Mỹ đó là những lá thư thời chiến. Hàng tháng, nhà tôi đều ngóng người bưu tá. Vào giờ nhất định là ra cổng chờ, thấy người đưa thư đạp xe đạp từ xa đã chạy ra để hỏi xem có thư bố gửi về?. Nói chung là ngóng, là hỏi và mong, nhưng một năm may ra chỉ nhận vài ba lá thư là quý lắm, mừng lắm!
Mỗi khi nhận được thư của bố tôi, ông tôi lại bóc đọc trước rồi đưa cho chị em tôi đọc to cho cả nhà nghe. Sau này lớn rồi tôi mới hiểu, ông nội đề phòng những điều không bình thường về bố tôi đến nếu đến ngay với mọi người. Đa số các lá thư bố tôi gửi về đều thăm hỏi sức khỏe gia đình, đời sống ra sao, các cháu học hành thế nào? Và cuối thư bao giờ cũng là lời hứa quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Rồi đêm về, đợi khi chúng tôi học bài xong, ông tôi mới thức viết thư cho bố tôi. Đến nay, tôi còn nhớ những bài thơ ông tôi viết kèm trong thư gửi cho bố tôi ngày đó. Năm ấy, có lẽ là 1967, ông tôi còn một người anh ruột dạy học ở làng nên bà con còn gọi là cụ Hương Sư, còn bố tôi gọi bằng bác ruột đang bị ốm nặng. Trong thư gửi về, bố tôi hỏi thăm người bác ấy. Thế nên trong thư trả lời bố tôi, ông tôi viết:
Bác già thầy u cũng già
Gia đình mạnh khỏe cháu Đà lớp năm
Cháu Va lớp ba rất chăm
Toán giờ so với đầu năm tiến nhiều
Cháu Ngà lớp một đáng yêu
Cộng trừ hai phép cháu đều đã thông
Cháu Trà hai má hồng hồng
Cháu hay vòi quýt của ông nó nhiều
Cháu đi mẫu giáo rất đều
Thường khoe cô giáo hay yêu chia quà
Bom Mỹ nổ cháu khóc òa
Ôm cháu ông dỗ nắng nhòa vườn cau
Khi buổi sáng lúc chiều hôm
Nhìn đàn cháu học nhớ ơn Đảng nhiều
Con ơi gian khó trăm chiều
Vâng lời Đảng – Bác là điều thầy mong
Sau này có nhiều người hỏi, Va là tên thật hay bút danh của tôi và có liên quan gì đến nước Nga mà đặt tên thế?. Thì đấy, bốn chị em tôi là Đà, Va, Ngà, Trà đều do ông nội tôi đặt tên liền vần a với bố tôi tên La, mẹ tôi tên Ga chứ không có liên quan gì đến Liên Xô, Tiệp Khắc hay Ba Lan…gì cả! Đất nước thống nhất, bố tôi đã phục viên được hai năm thì chúng tôi có thêm em trai út sinh 1976, và chính tôi đề xuất đặt tên em là Tuệ cho khác vần a, và được cả nhà đồng ý.
Sau khoảng 5 năm trong quân ngũ, có lẽ do bố tôi lớn tuổi hơn nhiều đồng đội, tính tình ngay thẳng, chịu khó nên được thủ tưởng đơn vị bố trí công tác quản lý, nuôi quân. Nhận tin trong thư bố tôi gửi về, ông nội tôi lại trắng đêm viết thư đi và trong thư có đoạn:
Tài với sắc ví như hai cổng giặc
Có đánh tan mới chắc nên người
Trong sạch quý nhất trên đời
Tôn hai chữ ấy như người chí thân
Việc sổ sách con cần cân thận
Kẻo mang điều tham lận của công
Phân minh ghi chép từng đồng
Tư hào con chớ mảy lông bén màng
Thẳng ngay ấy chính là vàng
Tham ô là giặc rõ ràng đó con
Khi lội suối lúc trèo non
Khó khăn có Đảng sắt son vững bền
Hỏi anh em học cấp trên
Chớ nên giấu dốt mà quên sửa mình
Quân dân cá nước nghĩa tình
Kính già yêu trẻ hòa mình với dân
Những khi con có việc cần
Nhờ dân giúp đỡ hỏi dân sẽ tường
Sao cho khi ở dân thương
Khi đi dân nhớ hai đường vẹn hai
Nói lên sự việc rất dài
Tóm lại muôn việc không ngoài hiếu trung
Khuyên con son sắt một lòng
Làm tròn nhiệm vụ đền công mẹ hiện
Một mai giặc Mỹ dẹp yên
Bắc Nam xum họp đoàn viên gia đình
Năm 1974, do tình hình sức khỏe cộng với hoàn cảnh gia đình bố mẹ già, bản thân là con độc nhất và lại đã 4 con nên khả năng bố tôi được về phục viên. Khi nhận được thư bố tôi hỏi ý kiến, ông tôi đã lại trắng mấy đêm để viết thư trả lời bố tôi, đoạn kết lại là thơ:
Cứ trong thư hỏi của con
Ý thầy tại ngũ nước non hòa bình
Giặc Mỹ hết bóng hết hình
Chuyển ngành bộ đội tùy tình cấp trên
Hiện nay Nam – Bắc hai miền
Chưa đựa thống nhất không nên trở về
Khuyên con giữ vững lời thề
Chưa hết giặc Mỹ chưa về quê hương
Đấy là ba bài thơ ông nội gửi bố tôi khi bố đang trong quân ngũ mà tôi còn nhớ và thuộc đến nay. Tuy nhiên ông tôi còn làm những bài thơ khác mà nhà tôi không lưu và nhớ được. Giai đoạn chiến tranh phá hoại miền Bắc ác liệt, làng tôi có một số gia đình ở trung tâm Thủ đô về sơ tán, trong đó có gia đình ông Hoàng Văn Hoan và gia đình người em rể của ông Hoàng Văn Hoan tên là Phan Tùng Lĩnh.
Năm ấy cụ Phan đã nghỉ hưu. Còn nhỏ, chúng tôi không biết cụ Phan công tác gì. Cụ Phan người cao, để râu cằm giống ông nội tôi. Cụ và hai cháu gái nội tên Cúc và Huệ. Thường ngày, cụ dạy thêm (không thu tiền) cho một số học sinh chúng tôi. Cụ rất nghiêm khắc. Còn nhớ một lần, bọn trẻ chúng tôi đang đứng quanh nghe cụ giảng bài ngoài sân. Tôi mất trật tự nên bị cụ cốc cho một trận nhớ đời. Vừa dạy học cho bọn trẻ, cụ Phan còn làm thơ và giao lưu thơ với ông tôi và bác Nguyễn Đình Văn là anh mẹ tôi.
Trong một bài thơ của cụ Phan tôi còn nhớ lõm bõm:
… Nghe cô khâu nón hát thanh thanh
nghe cá đớp cầu ao thầm nước lặng
Nghe chim chào đón ánh bình minh
Ngắm đóa nhài trinh trong gió mưa
Cùng hoa chanh trắng nở tư mùa
tưới vun hai khóm non cúc, huệ
chép chuyện xưa ngâm mấy vần thơ…
Và các bài thơ họa lại của ông tôi và bác tôi nay không còn ai nhớ nữa. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ 12 ngày đêm trên không, Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại Hòa Bình ở Việt Nam được ký kết, các gia đình sơ tán ở quê tôi trở lại Hà Nội và chúng tôi tiếp tục tới trường cho đến ngày Đại thắng mùa xuân 1975. Thời gian thấm thoắt đã gần 60 năm, ông tôi, cụ Phan, bác tôi đều đã về với thế giới bên kia và không biết các cụ có còn gặp nhau để mà đàm đạo thơ không ?. Còn các bạn Thông – cháu nội cụ Hoàng Văn Hoan, Cúc – Huệ, hai cháu nội của cụ Phan giờ cũng đều trên 50, trên 60 tuổi, và từ đó, chúng tôi không có tin tức gì về họ, nhất là “hai khóm non Cúc- Huệ” mà cụ Phan nhắc tới trong thơ.
Hôm nay, giữa những ngày dịch Covid – 19 đang diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương trong cả nước, tôi ngồi gõ những dòng này để nhớ về một thời kỷ niệm, nhớ về ông nội làm thơ và gieo vào tâm hồn non trẻ của tôi niềm yêu thơ từ những năm khói lửa đạn bom ấy!
Lê Va








