Thứ Năm, 16 - 04 - 2026
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tác giả
    • Mỹ thuật
    • Thơ
    • Văn Học
    • Nhiếp ảnh
    • Âm nhạc
    • Múa
    • Sân khấu
    • Nghiên cứu Phê bình
    • VHNT các Dân tộc thiểu số
  • Thông báo
  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ
No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tác giả
    • Mỹ thuật
    • Thơ
    • Văn Học
    • Nhiếp ảnh
    • Âm nhạc
    • Múa
    • Sân khấu
    • Nghiên cứu Phê bình
    • VHNT các Dân tộc thiểu số
  • Thông báo
  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ
No Result
View All Result
Hội Văn Học Nghệ Thuật
No Result
View All Result

Trang Chủ » Gò “Moong Tẻ” ở Văn Long

Gò “Moong Tẻ” ở Văn Long

Truyện ngắn của Nhà văn Vũ Quốc Khánh

Thứ Sáu, 25 - 04 - 2025
in Slider, Tin Tiêu Điểm, Thể Loại Chung, Văn
A A
8
VIEWS
Chia sẻ FacebookChia sẻ Twitter

Vốn xưa kia Moong tẻ là một gò đất đầy cỏ tranh, lau lách um tùm. Có một điều khác thường là, cứ từ sớm đến trưa, mây tạo thành dòng quần tụ, la đà trôi quanh đỉnh gò. Hôm nào trời quang, mặt trời lên sớm, dòng mây đó ánh lên mầu vàng huyền bí trông như vành đai hoàng tuyền. Còn hôm nào âm u, mây cũng âm u, xoáy vòng từ mép gò này sang mép gò kia chứ tịnh không trôi ra ngoài.

Dân làng Văn Long được các thầy cúng quanh vùng bảo cái dòng nổi trôi quần tụ của đám mây kia ở đâu là ở đó ẩn chứa những linh hồn thập loại chúng sinh, cô thần quả tú bị giam cầm ở nơi âm ty địa ngục nên mới sinh ra mầu sắc như vậy. Họ còn khuyên chớ có dại mà đến đó kẻo thần linh quở trách. Thế là gò đất ấy vốn ít người qua lại giờ càng thêm hoang vắng. Thỉnh thoảng, trong đêm khuya rộn lên tiếng gầm rú man dại của đám hổ lớn, hổ bé nghe rợn cả tóc gáy. Bởi vậy người dân Văn Long mới rỉ tai nhau bảo đó là nơi Beo đẻ và gò đất ấy tiếng Mường gọi là gò Moong tẻ. Họ còn thêu dệt bao nhiêu là chuyện quanh cái chốn hoang vu này, làm cho ai ở xa kinh hãi đã đành, mà ngay cả người bản địa cũng nổi da gà mỗi khi có việc phải đi qua gò đất đầy cỏ tranh và lau lách ấy. 

Từ những năm xa xưa dân Văn Long còn truyền lại câu chuyện: Có ông thầy địa lý người Dao tận trên Xinh Tàn trong một lần xuôi Mai Châu xem huyệt mộ cho nhà quan tri phủ, ngang qua đây gặp lúc tối trời dừng chân nghỉ ở làng này. Ông được Lý trưởng họ Phùng tên Long Hợp đối đãi như với bậc chân linh. Cảm kích vì ân tình đó, sau tuần rượu nóng vần bên bếp lửa ông thầy địa lý mới bảo nhỏ cho lý trưởng biết “Tiếc quá, hình khe dáng núi Văn Long thuộc thế long chầu hổ phục, nhưng lại bị gò Moong tẻ nhiều âm khí hợp với cung hoàng tuyền nằm án ngữ, nên trở thành nghịch địa. Nếu không, vùng đất này thuận đường làm ăn phải biết”. Hỏi có cách nào hóa giải sự nghịch địa ấy, thầy địa lý bấm độn rồi nói “Phải có người hội đủ tứ moong trấn trạch thì mới được”. Hỏi tứ moong là gì, thầy đáp “Đó là người sinh sống ở đất này qua ba đời, có giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh và năm sinh đều được cung Dần tự đứng chủ”. Lý trưởng Phùng Long Hợp chưa kịp vui vì có cách hóa giải, thì đã buồn ngao ngán bởi trong hàng vạn kẻ tuổi Dần, chưa chắc tìm được một người như vậy. Dẫu thế ông cũng bụng bảo dạ, “không có lòng thì thôi, chứ có lòng biết đâu trời thương sẽ cho tìm ra”. Từ đấy ông vẫn luôn để mắt trông ngóng.

Lại nói về nhà Bàn Văn Vĩnh. Ba đời về trước các cụ nhà Vĩnh là người Dao sống ở Tổng Kim trên vùng cao thượng huyện. Vì mất mùa đói kém phải phiêu dạt xuống đây làm con rơi, con nhặt một gia đình người Mường. Hội đồng kỳ mục Văn Long xếp vào dạng ngụ cư nên buộc các cụ phải ra ở rìa làng, cắm cho mảnh đất đối diện với gò Moong tẻ qua một dải đồng hẹp. Đất đai đã mỏng, chỉ vừa đủ mấy sải chân trẻ con, lại cằn cỗi đến mức cỏ cũng không mọc nổi. Đói ăn quanh năm, lại chẳng có đất trồng cấy, mấy lần các cụ định liều sang gò Moong tẻ khẩn hoang, trồng khoai sắn kiếm kế sinh nhai. Hiềm nỗi nghe dân làng đồn thổi, sợ đám mãnh thú tác oai, tác quái, nên các cụ đành dằn lòng chịu đựng.

Mãi sau này, khi bố mẹ Vĩnh đi dân công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ về, người thêm mà đất chẳng, ước mong có mảnh đất tư riêng càng nổi lên mạnh mẽ. Ông bèn thuyết phục bà, mình đi dân công gặp beo hổ nhiều lần mà có sao đâu, vậy có gì phải sợ. Thế là hai vợ chồng vác dao cuốc, địu cu Vĩnh sang chân gò Moong tẻ thi gan cùng mãnh thú. Trải qua mấy tuần dãi nắng dầm mưa, họ cũng sỏn dọn được một khoanh đất rộng chừng hơn chục đường bừa. Rồi cứ thế chồng cuốc vợ xới, xem chừng tâm đầu ý hợp, không ai ngăn cản được. 

Mãnh thú ở đây chắc thấy con người không làm gì hại chúng, nên chẳng nỡ gầm gừ dọa nạt. Chỉ có đất gò Moong tẻ là không. Những lát đất cuốc lên trông rõ nục nạc mà rễ cỏ tranh lại tầng tầng lớp lớp, trắng như vôi mới ra lò. Loại rễ này có đem phơi khô thì phơi nhưng hễ gặp ẩm là mầm lại đâm lên tua tủa. Chúng nhọn sắc, xuyên thủng cả da chân, khiến không cây trồng nào mọc chen được với chúng. Đang băn khoăn chưa biết tìm cách gì để diệt cỏ tranh thì ông bà chợt nhớ ngày đi dân công có người kể chỉ cần lên luống trồng khoai lang thì mấy cỏ tranh cũng phải tịt giống. Mừng quá, hai vợ chồng ra sức đi khắp làng xin dây khoai lang về gơ. Xin được đến đâu, gơ thành hàng đến đấy. Dần dần họ cũng đủ giống trồng kín bãi. Đúng là cao thủ sẽ có cao thủ trị. Đám rễ cỏ tranh gặp phải kẻ trên cơ nên chẳng cái nào ngóc lên nổi. Còn dây khoai lang cứ tung tẩy bò kín luống. Đến lúc thu hoạch, những củ khoai nần nẫn, chen nhau nổi trên mặt luống. Quả là lời các bậc lão nông “khoai đất lạ, mạ đất quen” cấm có sai. 

Được mùa, bố mẹ Vĩnh không quên ơn bà con dân làng, bèn lựa chọn những củ khoai to mang biếu mỗi nhà một nồi luộc. Ai cũng mừng, nhưng hễ rủ họ sang cùng phá hoang trồng tỉa thì lại chối đây đẩy. Lời ông thầy địa lý người Dao khi xưa nhắc nhở vẫn ăn sâu vào tâm trí họ. Còn bố bầm Vĩnh, sau vụ đầu thắng lợi, cảm giác sợ hãi mãnh thú đã không còn đeo bám như trước nữa. Ông bà yêu quý thành quả lao động của mình và chẳng có lý do gì mà không yêu luôn mảnh đất đã được thuần hóa. Cuối năm ấy, họ dựng được nếp nhà tranh xinh xắn ven gò đất Moong tẻ. Những tiếng cục cục của bầy gà, tiếng nhanh nhách của con chó dé, tiếng mèo kêu meo meo và tiếng bi bô, cười đùa của cu Vĩnh đã làm cho vùng đất này bớt đi vẻ hoang lạnh, bất chấp những đám mây vẫn ngày ngày quần tụ như dòng suối mải miết xoáy vòng trên đỉnh gò ánh lên mầu hoàng tuyền hay mầu u tịch đầy ma lực.

*

Một buổi chiều nắng nhạt. Vĩnh vừa ngủ dậy sau một giấc ngon lành. Không gian vẫn vắng lặng như thường thấy. Nó hé cửa bước ra hè, định chạy xuống bãi với bố bầm như mọi ngày. Bỗng nhiên, một con bướm trắng cứ nhấp nháy bay dọc lối mòn hướng lên phía trên gò. Tính tò mò của con trẻ trỗi dậy. Vĩnh muốn thử đi theo cánh bướm trắng kia xem sao. Thế là nó lon ton đi, đi mãi cho đến lúc ngẩng lên, bất chợt trông thấy một con mèo đang nằm trong búi cỏ. Con mèo ngước nhìn Vĩnh bằng cặp mắt trong veo rồi đứng dậy, bước về phía Vĩnh, dụi đầu vào người, thè lưỡi liếm lên mặt như đôi tri kỷ. Vĩnh thích thú giơ tay xoa lưng nó, rồi hai đứa ôm nhau lăn trên bãi cỏ mềm, đùa nghịch như đã quen nhau tự bao giờ.

Mãi đến lúc trời nhập nhoạng, bụng đói mèm, Vĩnh mới nhớ mình phải về nhà. Bỗng một con mèo to lớn nữa từ đâu đến đã đứng ngay bên cạnh. Nó gừ gừ với Vĩnh, nhưng không có vẻ gì giận dữ. Còn mèo con mừng rỡ, há mồm, dũi đầu vào bụng con mèo lớn bú ngon lành. Mùi sữa thơm làm bụng Vĩnh sôi eo éo. Nó khóc toáng lên, nước mắt giàn giụa. Thấy thế con mèo lớn thè lưỡi ra liếm vào tai, vào cổ, lại dùng bàn chân trước vỗ nhẹ trên lưng Vĩnh. Nệm chân mèo thật mềm, như bàn tay bầm xoa nựng khiến Vĩnh càng nấc lên vì nhớ. Con mèo mẹ bất chợt đứng lên. Bầu vú thề lễ trễ xuống trước miệng Vĩnh như mời mọc. Trong cơn đói cồn cào Vĩnh há miệng, ngậm vào vú mèo mẹ rồi mút lấy mút để. Từng tia sữa nóng ấm trôi qua cổ họng làm cơn đói dịu dần. Khi bụng đã căng đầy, mắt díu lại, Vĩnh ngáp một tiếng dài rồi ôm con mèo con lăn ra ngủ.

Chẳng biết ngủ được bao lâu, chỉ biết khi thấy những tiếng xoong nồi đập xủng xoảng, rồi tiếng người ồn ào kêu khóc và ánh lửa rùng rùng chiếu sáng những búi cây cỏ xung quanh thì Vĩnh tỉnh giấc. Nó lồm cồm bò dậy, ngó quanh chẳng thấy mèo mẹ đâu, chỉ còn con mèo con đang nằm cạnh. Vĩnh khóc ré lên, bố bầm nó nghe tiếng cầm đuốc ào tới. Ánh lửa soi rõ bầm nó nước mắt giàn giụa, kinh hãi gạt con mèo con sang một bên rồi ôm chặt lấy Vĩnh chạy vội về phía đám đông. Bỗng một tiếng gầm dữ dội vang lên. Con mèo mẹ chồm tới bên mèo con. Đám người cùng đi với bố bầm Vĩnh sợ hãi la hét thất thanh:

– Chạy đi. Tổ moong đấy!

Rồi họ chạy tán loạn về phía chân gò. Bố bầm Vĩnh cũng vậy. Lát sau về đến nhà Vĩnh, tất cả mới hoàn hồn. Họ xúm lại sờ nắn, xoa xuýt Vĩnh. Nhìn thấy vệt sữa tươi còn vương trên vạt áo con, bầm nó như chợt hiểu, Bà lập cập hỏi Vĩnh:

– Con bú sữa con moong mẹ  à?

Vĩnh gật đầu. Mọi người ồ lên kinh ngạc. Ông trưởng bản chợt nhớ ra, vội hỏi bố Vĩnh:

– Thằng cháu này sinh vào lúc nào dượng nhỉ?

Bố Vĩnh trả lời. Ông trưởng bản lẩm bầm một lát rồi hét toáng lên:

– Tìm thấy rồi bà con ơi!

Tiếng ồn ào nổi lên:

– Tìm thấy gì đấy?

– Cháu Vĩnh đây chính là người có đủ “tứ moong” mà bao lâu nay dân làng Văn Long ta đỏ mắt tìm đấy. Thảo nào mà đám moong này phải né tránh không dám động đến nó. Từ nay có cháu Vĩnh trấn trạch, chúng ta không phải sợ lũ mãnh thú ấy nữa. Văn Long ta cũng dễ thở đến nơi rồi.

Mọi người xúm lại ôm hôn Vĩnh. Ai cũng muốn được chạm tay vào người nó như thể làm thế là tìm được phước thịnh.

*

Đấy là câu chuyện của những ngày Vĩnh mới lên ba. Sau này khi đã khôn lớn nó mới hiểu thêm những chuyện li kì mà mọi người đã kể. Thì ra con mèo lớn đã cho Vĩnh bú vào cái buổi chiều hoang dại ấy chính là con hổ mẹ, một mãnh thú mà dân làng chỉ cần nghe thấy tiếng là đã khiếp vía. Lúc ấy nó vừa qua đận mang nặng đẻ đau và đang trong thời kỳ cho con bú. Không biết có phải tình mẫu tử làm mềm lòng, hay do lời phán của ông thầy người Dao hiệu nghiệm mà hổ mẹ không động đến Vĩnh. Cũng từ đó người dân Văn Long biết Vĩnh là cứu tinh của cả làng.

Thời gian dần trôi. Vĩnh mỗi ngày một khôn lớn. Khi lên học cấp hai, rồi cấp ba, câu chuyện xa xưa ấy vẫn cứ được mọi người háo hức kể lại. Thầy giáo và bạn bè luôn nhìn nó bằng con mắt ngưỡng mộ. Nó luôn được cưng nựng kể cả khi nói dối. Có một lần cái Lợi không thuộc bài. Sợ thầy, Lợi rơm rớm nước mắt cầu cứu. Trong lúc bí bách, máu liều trỗi dậy, Vĩnh bèn ấp úng:

– Hôm qua em bị cảm… bạn Lợi phải đi lấy thuốc cho em… nên không có thời gian học bài đấy ạ!

Thầy đang cau có, bực bội vì cô học trò lười, nghe thấy thế nét mặt chuyển thành vui vẻ:

– Hóa ra em bận giúp bạn Vĩnh à? Thế thì thôi, ngày mai em học bài, thầy kiểm tra lại sau nhé!

Học hết cấp ba, Vĩnh và Lợi yêu nhau lúc nào không biết. Hai đứa dắt tay nhau đi thi vào Đại học. Kết quả Lợi trúng tuyển còn Vĩnh thì trượt bởi những đặc ân khi học ở Văn Long đã không còn để nâng đỡ cho nó nữa.

Thấm thoắt mấy năm, Lợi đã tốt nghiệp trường Đại học Nông nghiệp. Cô xin về xã công tác và được bầu làm Chủ nhiệm Hợp tác xã. Còn Vĩnh được vào làm nhân viên ủy ban. Thế nhưng qua thời gian và công việc mọi người biết anh không phải là người có năng lực. Để soạn thảo một báo cáo anh không biết lập dàn ý ra sao, trong tâm ý tứ như thế nào. Đến các bản làng kiểm tra sản xuất anh không biết nông lịch mùa vụ, các công việc cụ thể cầy bừa cấy hái, việc nào làm trước, việc nào làm sau. Vì thế hầu như không một ai chịu nghe anh chỉ đạo. Trong kỳ bầu cử Hội đồng nhân dân xã năm ấy chẳng có lá phiếu nào bầu cho Vĩnh cả.

Thế là xôi hỏng, bỏng không, Vĩnh lại tay trắng trở về ăn bám bố bầm tại mảnh đất gò Moong tẻ. May mà có Lợi động viên, nỗi buồn trong anh cũng vơi dần. Tháng mười năm ấy, Vĩnh nghe lời bố bầm lấy vợ. Cô dâu không phải ai xa lạ, chính là Kỹ sư Phùng Kim Lợi, người mà anh yêu từ những năm còn học phổ thông. Rồi bố bầm Vĩnh cũng già yếu. Họ lần lượt theo nhau về hầu các bậc tiên tổ, để lại cho vợ chồng anh quản lý toàn bộ gò đất Moong tẻ với bao nhiêu là huyền tích.

Đến lúc này Vĩnh mới thấm thía câu nói của Bác Hồ “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” được ghi trong hội trường ủy ban. Thì ra mọi thứ danh xưng đều là vô nghĩa nếu như con người không có thực tài và đức. Dân làng dẫu có khoác lên vai anh danh xưng trấn trạch chứ các danh xưng cao hơn nữa cũng không giải quyết được gì bởi vì anh chưa có những sự hiểu biết cụ thể. Điều ấy dạy cho anh rằng, muốn làm được công việc nhỏ bé nhất làm chỗ dựa cho gia đình và giúp cho dân làng thì mình phải là người biết việc và có tâm, tức là phải vừa có tài, vừa có đức. Thế mà anh lại bỏ lỡ cơ hội học hành đến nơi đến chốn khi có cơ hội. Ý chí và bài học trường đời đã thôi thúc anh làm lại từ đầu, quyết tâm tự cải tạo mình để trở thành người có ích.

Đất nước lại có chiến tranh. Kẻ thù đang gây chiến trên biên giới. Lời hiệu triệu của núi sông thôi thúc lớp lớp thanh niên lên đường bảo vệ Tổ quốc. Thế là Vĩnh xung phong vào quân ngũ. Ngoài trọng trách của quân nhân anh bắt đầu tự rèn rũa mình từ những việc nhỏ bé nhất theo tác phong quân kỷ.

Ngoài kia đất trời đang chuyển mùa. Những tia nắng ấm đã len lỏi khắp cành cây tán lá, đem năng lượng sinh tồn nảy nở sinh sôi cho muôn loài vạn vật. Bất giác trong lòng Vĩnh rung lên một điệu nhạc vui tươi và khỏe khoắn.

 

Bài Viết Tương Tự

Giữ gìn bản sắc “Cội nguồn” trong dòng chảy hội nhập
Slider

Giữ gìn bản sắc “Cội nguồn” trong dòng chảy hội nhập

          Trong hành trình phát triển của mỗi dân tộc, cội nguồn luôn giữ một vị...

Chương trình tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa Du lịch Đất Tổ năm 2026
Infographic

Chương trình tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa Du lịch Đất Tổ năm 2026

Chương trình tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần Văn hóa, Du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026    ...

Tọa đàm “Nâng cao chất lượng sáng tác mỹ thuật trong kỷ nguyên mới”
Slider

Tọa đàm “Nâng cao chất lượng sáng tác mỹ thuật trong kỷ nguyên mới”

     Sáng 21-3-2026, Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Phú Thọ và Chi hội Hội Mỹ thuật VN tỉnh Phú...

Mùa đông và những góc nhìn của hoạ sĩ

Mùa đông và những góc nhìn của hoạ sĩ

Nhà sưu tập Nguyễn Mạnh Phúc – Cả đời đau đáu với quê hương

Nhà sưu tập Nguyễn Mạnh Phúc – Cả đời đau đáu với quê hương

Next Post
“Ấm áp ngọn lửa thiện nguyện”

“Ấm áp ngọn lửa thiện nguyện”

Vùng chè Văn Long

Vùng chè Văn Long

Chuyện của Giảng

Chuyện của Giảng

Logo Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Phú Thọ

VNDT - Mỗi một chi tiết là một Nghệ Thuật

Thông Tin Liên Hệ


  • Địa chỉ: Số 160 - Đường Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - Thành Phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
  • Điện thoại: 0210.3847.337
  • Email: vanhocnghethuatphutho@gmail.com
  • Giấy phép xuất bản số: 17/GP-TTĐT ngày 07/11/2014 – Sở Thông tin và Truyền thông Phú Thọ
  • Chịu trách nhiệm chính: Cao Hồng Phương - Chủ tịch Hội Liên Hiệp VHNT Phú Thọ

Liên Hệ Quảng Cáo


  • Liên Hệ Quảng Cáo: Thông tin liên hệ gửi đến Email Hội Liên Hiệp VHNT Phú Thọ

Vị Trí Nghệ Thuật

© 2003 VNDT - Bản Quyền thuộc về Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Phú Thọ.

No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tác giả
    • Mỹ thuật
    • Thơ
    • Văn Học
    • Nhiếp ảnh
    • Âm nhạc
    • Múa
    • Sân khấu
    • Nghiên cứu Phê bình
    • VHNT các Dân tộc thiểu số
  • Thông báo
  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ

© 2023 VHNTDT - Website thuộc quyền sở hữu của VHNTDT.