Trước đây, khi vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ trong đó có tổng Sốm Hà Đông quê tôi còn rất nhiều ao. Hàng năm, chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, việc tát ao diễn ra sôi động và theo nó là cả chuỗi công việc mà nay không còn nữa.
Có thể bắt đầu từ giữa tháng Mười Một âm lịch là đã bắt đầu vào mùa tát ao. Ao lớn thì nhiều gia đình cùng tát, ao vừa thì các gia đình anh em tát với nhau, ao nhỏ có thể chỉ một gia đình tát. Từ đầu làng đến cuối xóm râm ran tát ao, không khác gì làng vào hội. Tát ao lấy cá, cấy rau cần , vớt hoặc ngâm tre, xoan chuẩn bị cho việc làm nhà, làm bếp và cuối cùng là để dọn ao, thả một mùa nước mới.
Công việc đồng áng cuối năm đã hòm hòm, người lớn bàn nhau tát ao, trẻ con nóng lòng chờ đợi rồi râm ran khoe nhau, mai nhà tao tát ao đấy… Khi đã quyết ngày tát ao thì việc đầu tiên là chuẩn bị khau (gầu). Những chiếc khau cất trên gác bếp được lấy xuống buộc lại cho chắc. Những đôi thừng mềm, chắc được lựa. Thừng nào khau ấy cứ thế mà gióng bộ. Khau hay còn gọi là gầu ấy là khau giai, gầu giai. Mỗi khau bốn dây, hai dây buộc vào miệng, hai dây buộc vào đáy khau để hai người một khau cứ thế mà tát.
Khi đã có đầy đủ khau và thừng thì tiếp theo là việc làm tầu tát. Tầu tát là chỗ để đứng tát ao. Mới đầu, nước còn cao, người ta có thể đứng ngay bờ ao mà tát. Sau nước thấp dần thì phải làm chỗ đứng ra xa bờ để phù hợp với việc vục nước. Thế là những cây tre già, thẳng được đóng chéo xuống nước rồi buộc chặt lại. Những tấm gỗ mà đa số là tận dụng từ những cỗ quan tài khi bốc mộ xong, gọi là ván thôi được bắc làm chỗ đứng. Những ao rộng có thể 2 đến 3 tầu, mỗi tầu có khi tới 2 đến 3 cặp cùng tát.
Khi tát nước, tay cầm dây miệng phải làm sao để gầu chúi xuống, tay cầm dây đáy phải nhâng cao hơn thì gầu mới ăn nước. Hai bên tầu, người tát cúi xuống, rồi đứng lên, ưỡn người ra phía sau kéo nước, đổ nước nhịp nhàng. Tiếng ụp khi miệng khau bập vào nước, tiếng òa khi nước đổ ra là những âm chủ đạo cùng tiếng cười, tiếng nói của người tát, tiếng nô đùa của trẻ con quanh bờ tạo nên bản giao hưởng tát ao vô cùng hấp dẫn. Ao nhỏ chỉ tát trong một đến hai ngày, ao lớn có khi phải cả tuần mới tát xong. Những cặp tát có thể đếm số gầu theo quy định thì đổi nhau chứ mấy ai có đồng hồ để căn giờ. Khi ao chưa cạn, người ta dùng vó bắt lấy những con cá để nấu cháo ăn đêm vừa tát, vừa trông ao.
Chính trong những lần được thức cùng người lớn, được ăn cháo trông ao, tôi được nghe ông nội dạy cách “cháo nóng húp quanh” kèm theo câu chuyện mà sau này không thấy mấy ai nhắc đến. Phần cháo trên bề mặt lại ở cạnh miệng bát có độ nóng bao giờ cũng thấp hơn cháo ở giữa bát hay dưới bát. Do đó cứ lân tay xoay miệng bát mà húp thì sẽ ăn được ngay từ khi cháo nóng vừa múc ra. Ấy là người biết ăn cháo nóng. Câu chuyện kèm theo là: Xưa có những kẻ chuyên đi bắt cóc trẻ con rồi tìm cách để lấy tiền chuộc.
Khi những trẻ con bị bắt về, kẻ bắt cóc để trẻ thật đói rồi nấu một nồi cháo và múc ra bát khi còn nghi ngút nóng. Đám trẻ đang háu đói bê ngay bát cháo lên húp. Bọn bắt cóc quan sát. Đứa trẻ nào biết ăn cháo “húp quanh” liền được thả ngay. Đứa nào luống cuống, húp cháo một chỗ, nóng quá không húp được nữa thì bị giữ lại. Vì đứa trẻ biết ăn cháo, tức là con nhà nghèo. Nhà nghèo lấy đâu tiền chuộc. Đứa trẻ không biết ăn cháo hẳn là con nhà giầu, giữ lại con nhà giầu thì mới hy vọng thu được tiền chuộc.
Ao cạn dần. Nước càng đục càng chứng tỏ ao nhiều cá. Người tát ao cứ nhìn màu nước mà khấp khởi hay trầm ngâm. Khi ao đã cạn lộ hẳn phần bùn từ bờ kéo xuống gần đáy ao thì người ta bắt đầu bới bùn bắt những chú cá đầu tiên, đó là những con rô, trê, chuối (quả) rúc trong bùn. Nước cạn tiếp nữa, cá lớn đã nổi lườn xáo động lòng ao thì vài người dùng vó bắt trước những con cá to, loại cá trắng như chép, mè, trôi cho cá khỏi sặc bùn mà chết. Riêng cá mè, bắt được thì đập chết ngay cho bớt tanh. Chép, trôi, diếc được quây thả giữ cho sống ở những ao bên cạnh chưa tát.
Ao cạn hẳn là tập trung bắt cá. Những xô, thùng, xảo được huy động. Người xuống bắt cá là những đàn ông khỏe mạnh, tinh nhanh, còn đàn bà theo sau vừa giữ xô, thùng cá, vừa thu nhặt những cua, ốc, tép tôm. Điều có thể gần như quy định bất thành văn là không khiến người ngoài bắt cá hộ, đề phòng họ dìm cá dưới bùn sau đó khi hôi thì nhớ chỗ mà lấy lên. Không ít người hôi cá mon men rồi lấn tới khi người bắt cá chưa rời khỏi ao. Nói, quát, đuổi không được thì người ta té bùn xua người hôi ra xa nơi họ đang bắt cá. Bắt cá xong, khi người hôi cũng rời khỏi ao. Kể từ lúc này gia chủ lại trông ao không cho ai xuống. Đợi khoảng 2 giờ sau, khi những con cá trốn chạy dưới bùn ngóc đầu lên lấy không khí thì gia chủ lại xuống bắt, gọi là bắt cá ngóc. Cá ngóc hàng loạt, bắt rất dễ, không phải mò tìm, chỉ quan sát mà bắt, nên gia chủ giành quyền bắt cá ngóc cho mình.
Bắt cá xong, việc phân phối cá thu được cũng theo quy định. Không ai biết có từ bao giờ, con cá to nhất gọi là cá đầu, bất kể loại cá gì, bao giờ cũng dành cho người cao tuổi nhất trong số các gia đình con, cháu cùng chung ao đó rồi mới chia cá. Chia cá có thể theo phận, theo hộ hoặc theo số người tham gia tát ao. Cá chia ngay bờ ao hoặc sân nhà. Cá to, cá chuối (cá quả) chia trước, cá nhỏ chia sau. Và cũng lại theo quy định bất thành văn, người chia cá bao giờ cũng là người nhận phần sau, tránh nhận phần hơn do chủ định trong lúc chia. Do vậy, cũng có người không muốn mó tay vào chia cá, vì phải lấy phần sau và chắc chắn không chênh lệch nhiều thì cũng thiệt hơn phần khác . Do đó, người chia cá vừa phải công tâm, vừa phải đại lượng, xem nhẹ vật chất, coi trọng danh dự thì mới có thể làm cái công việc “cầm cân nảy mực” này được. Ngày đó, cá chia theo con vì nhiều loại chứ không theo cân bao giờ. Các gia đình nhận cá về, chọn các loại cá đen gồm chuối, trê, rô thả vào chum, vại và cho cá ăn cám nuôi dành đến tết, thậm chí cả ra Giêng sẽ dùng, còn cá trắng thì ăn trước, chủ yếu là kho cá. Cá tự nhiên kho kỹ với tương, lại có giềng thì thôi rồi!.
Tát ao, bắt cá xong khoảng vài ngày thì bắt đầu những công việc tiếp theo từ cái ao cạn ấy mà đầu tiên là việc lấy bùn ao. Có hai cách lấy bùn. Thứ nhất là lấy ngay từ khi bùn còn lỏng. Người khỏe dùng những chiếc khau sòng nhỏ làm bằng tôn, cán dài đứng dưới ao mà xúc rồi hắt/vẩy bùn lên bờ. Lấy bùn kiểu này chỉ cần từng người cũng đưa được bùn từ đáy ao lên rất xa. Từng khối bùn lỏng này đợi đến khi cứng dần lại được dùng vào các việc như: Bùn dẻo được vật thành đống rồi cho vào khuôn gỗ đã rắc tro bếp cho khỏi dính tạo thành những viên gạch, gọi là gạch đất, vì không nung mà chỉ đợi khô để xây tường nhà, bếp hoặc kho. Gia đình có điều kiện khi xây xong tường thì trộn trấu với vôi thành hồ trát tường cho bền và sạch, có nhà kiếm báo cũ dán tường, lại có nhà cứ để nguyên tường đất như vậy. Bùn ao không dùng đóng gạch thì để khô hẳn, thậm chí khô trắng mới cuốc lên đắp vào gốc tre, chính thế mà các lũy tre cứ cao lên, rộng ra. Nhà tôi có các lũy tre như thế. Năm 1972, chiến dịch 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, ông tôi khoét một hầm dài, đủ rộng dưới lỹ tre dày đặc để cả nhà ăn ngủ dưới hầm tránh bom đạn. Một phần bùn để khô kỹ hơn nữa thì đập cho tơi dùng làm phân bón cây rất tốt. Bùn ao mà.
Có gia đình không lấy bùn từ lúc còn lỏng như trên mà đợi bùn ao cứng lại, ra Giêng mới dùng kéo cắt (bùn lúc này đã thành đất) khuân lên đắp bờ, đắp nền nhà vv…Lấy bùn kiểu này cần đông người, đứng thành dây mà chuyền tay cho nhau đưa lên vườn. Thú vị của lấy bùn kiểu này là rất vui vì đông người và bắt được rất nhiều lươn to, béo ngậy. Thế là những bữa cháo lươn lại có dịp thơm lừng gia vị rau răm bay đi khắp xóm.
Có ao không lấy bùn mà trang phẳng ngay sau mấy ngày sau đó và dùng để cấy rau cần. Bùn ao quá nhiều mầu, rau cần không phải bón gì cả mà bén chân và nhanh chóng xanh tốt. Những ao tát sớm, cấy cần sớm kịp có rau cần để om với số cá trê nuôi từ khi tát ao, một món ăn độc đáo, cá trê om với ra cần có thêm chút nghệ vàng ươm.
Công việc cuối cùng nếu có, đó là đưa xoan, tre…xuống đáy ao, đóng ghìm thành bè, chất bùn, cấy khoai nước lên rồi thả nước lại cho ao. Và những chuồng bèo, bè rau muống, rau rút lại được thả. Một hành trình êm ả đợi đến ngày sôi động của ao lại tiếp tục diễn ra trong các làng quê mỗi ngày một đông đúc. Cuối năm, nhà nhà lại tát ao, đón Tết!
Lê Va








