Tin vợ chồng Mừng Bí thư Xã Đoàn và Kỹ sư Bảo cải tạo vụng nước dưới chân thác Hồng Hoang, nuôi thành công cá tầm chả mấy chốc loang ra khắp Văn Long. Mọi người háo hức muốn đến tham quan nhưng Phùng Thế Bảo kiên quyết:
– Không ai được vào đâu. Phòng bệnh hơn chữa bệnh đấy. Các vị đến tham quan nhỡ mang theo mầm bệnh khiến cá chết hàng loạt thì chúng tôi sạt nghiệp à?
Thế là ai nấy đành chịu. Chỉ đến khi Chủ tịch xã báo đưa đoàn khách thành phố đến thăm, vợ chồng Mừng mới vào trang trại mở cổng tiếp đón. Đoàn khách được dẫn đến những ao nuôi cá tầm kè bằng đá núi, xếp thành hàng bên thác Hồng Hoang bọt tung trắng xóa. Một thanh niên đội mũ Le-vít che kín vầng trán cao, chân tay rám nắng từ căn chòi bên rừng bước ra giới thiệu:
– Trang trại của chúng tôi có hơn một chục ao nuôi cá tầm, lấy nước từ thác Hồng Hoang chẩy từ đỉnh núi xuống. Đây là nguồn nước sạch và lạnh, rất phù hợp cho việc nuôi cá tầm. Ba ao đầu là ao ươm cá giống, còn lại là ao nuôi cá thịt các độ tuổi. Qua một năm từ khi thả cá giống đến nay chúng tôi đã chuẩn bị thu hoạch lứa đầu.
Mọi người đi theo bờ bê tông đến thăm ao cá thịt. Từng dòng bọt nước do máy sục ô-xy từ dưới đáy sủi lên len lỏi giữa đàn cá, mỗi con dài chừng hai gang tay, mình thuôn tròn chen chúc nhau bơi. Ai cũng trầm trồ khen ngợi. Một ông khách hào hứng hỏi:
– Cá này bán bao nhiêu tiền một cân hả anh?
Người hướng dẫn ngẩng lên đáp:
– Dạ, khoảng ba trăm ngàn anh ạ.
Bỗng ông Chủ tịch xã Văn Long reo lên:
– Chú Tùng! Chú làm ở đây à? Sao cô ấy bảo không biết chú đi đâu?
– Dạ, em ở đây nuôi cá cho vợ chồng nhà Mừng Bảo đã gần năm nay rồi ạ.
– Thế à? Thế mà mọi người không biết, cứ đồn thổi đâu đâu ấy.
Thế là sự ẩn mình làm việc của Tùng đã bị phát giác.
Chiều, Nghe chủ tịch xã bảo, Nghĩa vội vã chạy vào thác Hồng Hoang. Trang trại của Mừng được rào kín. Cổng giả chắc chắn, cài chặt. Lâu nay biết vợ chồng Mừng lập trang trại ở đây, nhưng công việc bận tối mắt, lại luôn thấy họ sống trong làng, nên Nghĩa chưa có dịp vào thăm. Chị đang ngơ ngác thì Bảo phóng xe ào đến. Anh mở cổng, đẩy Lợi đến trước ngôi nhà sàn năm gian được dựng giữa khoảng đất trống nối thác Hồng Hoang và hồ Suối Lạnh rồi gọi lớn:
– Tùng ơi, ra đón khách này.
Có tiếng lạch xạch ngoài khu ao, rồi Tùng hấp tấp men theo bờ chạy vào. Đến trước mặt Nghĩa, anh đứng như trời trồng. Nghĩa cũng như hóa đá, nước mắt vòng quanh. Phải một lúc sau Tùng mới bình tâm lại. Anh run run nắm tay Nghĩa, kéo lên cầu thang vào nhà. Bảo đang ngồi trước bếp lửa kê ở gian giữa đứng dậy:
– Thôi nhé. Từ hôm nay tôi trả lại nhà cho hai người đấy. Có chuyện cần tâm sự với nhau thì tâm sự đi, còn gì tý nữa chờ tôi về đón Mừng vào sẽ giải quyết nốt.
Nói xong Bảo cười tinh nghịch, ào xuống cầu thang rồi phóng xe lao nhanh ra cổng. Nghĩa ngơ ngác chưa hiểu thế nào, mặt cứ đần ra.
Nghĩa nhớ lại cách đây ba năm. Chỉ còn một ngày nữa là ba mươi Tết Tùng mới ở cơ quan về. Nhìn chồng hốc hác, mắt trũng sâu, râu ria lởm chởm, bơ phờ như người đói ngủ Nghĩa không khỏi xót xa. Nước mắt lưng tròng, Nghĩa ôm lấy Tùng mếu máo. Bao nhiêu lời muốn giãi bầy mà không thể cất nên lời. Còn Tùng cứ dại đi, người đơ lại như mất hồn trong căn nhà của mình. Sau bữa cơm tối vội vàng Tùng cũng vội vàng đi ngủ. Nghĩa nằm bên thao thức, nghe chồng nhai tóp tép trong giấc mơ mà lòng buồn rười rượi. Mãi gần sáng chị mới thiu thiu.
Khi tỉnh giấc, Nghĩa đã không thấy Tùng đâu, chỉ thấy trên bàn một mảnh giấy nhỏ vỏn vẹn vài dòng. ”Anh làm ăn thua lỗ, nợ bạn bè không trả nổi, nên phải đi làm kiếm tiền trả nợ. Bao giờ trả xong, anh sẽ về”. Nghĩa đau đớn, nấc lên, rồi hấp tấp đạp xe xuống công ty tìm chồng. Ông Trưởng phòng Tổ chức ái ngại nhìn chị, bảo “Chú ấy ham cờ bạc, tiêu lạm vào tiền mua vật tư của công ty, nên bị buộc thôi việc cách đây bốn tháng rồi”. Chị hỏi giờ Tùng có thể ở đâu, mọi người trong phòng đều không ai biết. Suốt Tết năm ấy Nghĩa như nằm trên đống rấm bếp, không biết làm gì ngoài việc cắn chặt răng lại để ngăn nước mắt khỏi trào ra.
Mấy tháng sau. Giữa lúc Nghĩa đang bộn bề với công việc chỉ đạo thu hái và chế biến chè thì Tùng về. Không ai biết anh làm gì, ở đâu trong thời gian vừa qua, chỉ biết giờ trông anh hốc hác, già đi đến gần chục tuổi. Gò đất Moong tẻ khi anh đi hoang hóa và lau lách, bây giờ đã thành vườn chè xanh ngút mắt. Một cơ ngơi thơm ngậy vị chè với hệ thống máy móc chế biến tiên tiến và những người công nhân chăm chỉ, cần mẫn. Tùng thầm nghĩ, vợ anh đúng là người phụ nữ chịu thương, chịu khó, không chê vào đâu được.
Thấy anh về Nghĩa vẫn vui vẻ, vẫn lo toan, chăm sóc cho chồng như người vợ thảo hiền. Điều ấy càng làm cho Tùng thêm bối rối.
Mọi chuyện rồi cũng đến lúc phải vỡ lở. Số tiền nợ nần vì thua bạc hơn năm trăm triệu đồng của Tùng đang bị bọn xã hội đen ngày đêm thúc ép. Điều ấy thực sự là nỗi chán chường với một người dân suốt ngày bán lưng cho trời, bán bụng cho đất, nhưng không làm cho Nghĩa đau đớn bằng việc Tùng đã phụ bạc chị, ăn nằm với người phụ nữ khác. Cô ta đã rủ rê Tùng ngay trên chiếu bạc. Cho đến lúc không lợi dụng được nữa, nghe theo người tình mới, cô ta thẳng tay đuổi Tùng ra khỏi nhà.
Nhìn chồng đau đớn thú tội, nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt xám ngoét vì không còn đâu mà bấu víu nữa, Nghĩa thấy thật chua xót cho cảnh đời. Chị lặng lẽ bước ra khỏi nhà như một cái bóng.
Cái bóng đó đưa đẩy chị ra bên hồ Suối Lạnh. Dòng thác Hồng Hoang đổ nước từ trên núi cao xuống làm ánh trăng vỡ ra từng mảnh li ti. Không gian được những hạt bạc rắc vào lấm tấm chẩy trên thảm cỏ khiến tâm hồn Nghĩa thư thái lại. Tự nhiên trong lòng chị ý nghĩ “của Xê-da lại trả về Xê-da” dâng lên. Công sức của chị mấy năm qua đã biến gò đất Moong tẻ thành như bây giờ, Nghĩa sẽ rũ áo ra đi làm lại cuộc đời trả lại cho Tùng cơ ngơi ấy. Biết đâu sự chia tay này lại sẽ mở ra được con đường làm ăn khác cho cả hai người. Suy nghĩ ấy thôi thúc, thổi bùng lên trong lòng Nghĩa luồng sinh khí mới. Nó nhẹ nhàng và êm dịu, ru chị chìm vào giấc ngủ ngay trên thảm cỏ mần trầu ven hồ Suối Lạnh đang mang mác ánh trăng.
Cho đến lúc sương xuống thành giọt Nghĩa mới tỉnh ngủ. Tùng ngồi cạnh chị tự lúc nào. Anh lại run run nói những lời tự xỉ vả và mong chị mở lòng nhân từ cứu anh ra khỏi vũng bùn nhơ nhớp đang vây kín. Bây giờ anh đã bị dồn đến chân tường. Chỉ có Nghĩa mới trả được món nợ cờ bạc để kéo anh quay lại cuộc đời lương thiện.
Lời Tùng nói như lát dao cứa vào lòng chị. Bàn tay Tùng lùa vào tóc Nghĩa, khiến chị xúc động nhớ lại khi xưa lúc nhận lời cầu hôn của anh. Nhưng, chị vẫn không sao quên được nỗi đau bị phản bội. Chị kiên quyết về nhà, mở két lấy tiền đưa cho Tùng:
– Đây là tiền để anh trả nợ thua cờ bạc. Trả nợ xong anh hãy chí thú quay về Moong tẻ mà làm ăn sinh sống, đừng làm điều gì dại dột để dân làng chê cười. Còn tôi, tôi sẽ chuyển về nhà ngoại sinh sống. Từ giờ chúng ta không còn gì ràng buộc với nhau nữa.
Biết tính vợ đã nói là làm, Tùng tìm cách trì hoãn:
– Em chờ anh hai ngày anh đi trả nợ. Xong xuôi vợ chồng mình sẽ bàn tính tiếp nhé!
Hai ngày sau vẫn không thấy Tùng về. Tủ giả của anh cũng chẳng còn bộ quần áo nào cả. Thế là thêm một lần nữa Tùng lại bặt vô âm tín.
*
Bây giờ Tùng đã ở đây, nơi con tác Hồng Hoang ngày đêm tung bọt trắng xóa. giọng đượm buồn giải thích:
– Anh đã có lỗi lớn với em. Anh muốn làm được việc gì ra tấm ra món để chuộc lại lỗi lầm ấy. Vì thế số tiền em đưa đi trả nợ ngày trước còn mấy chục triệu anh không dám tiêu, nhờ anh Bảo đi mua hộ ngôi nhà sàn này về dựng ở đây và bàn với vợ chồng Mừng chung nhau đào ao nuôi cá tầm. Một năm qua anh không cho vợ chồng Mừng báo tin, quyết tâm ẩn dật, nuôi bằng được cá tầm để lập công chuộc tội với em đấy.
Nghĩa thấy thương chồng, nhưng giận vì bị phản bội nên vẫn im lặng, chẳng bắt lời. Không gian yên ắng như chốn không người. Mãi tối một chặp, vợ chồng Bảo mới vào. Vừa bước lên cầu thang Mừng đã nháy mắt với Nghĩa, bỗ bã:
– Thế nào, “mạ già ruộng ngấu”, kể lể với nhau hết chưa? Anh Tùng nhà chị thế mà giỏi thật nhé. Sau lầm lỗi cũ anh ấy nói với vợ chồng em là đã ngã xuống từ chiếu bạc, may mà còn học được nghề nuôi cá tầm. Bây giờ anh ấy quyết đứng lên từ nghề ấy đấy. Vụ cá này chắc chắn thu được bốn tấn cá, trừ chi phí cũng còn lãi trên nửa tỷ đồng, chị ạ!
Bảo phù họa:
– Không phải chỉ nuôi cá tầm thành công đâu. Đề án mở khu du lịch sinh thái tại Văn Long của chú Tùng tôi đã trình bầy và được Huyện đồng ý rồi. Tới đây chú ấy sẽ là Giám đốc đề án, có mà bơi ra chẳng hết việc nhé!
Nghĩa lại ngơ ngác, rụt rè hỏi:
– Đề án ấy như thế nào?
Bảo nói tiếp:
– Thực hiện việc đưa Văn Long trở thành vùng chè tập trung của em, Hợp tác xã đã dùng máy móc thay cho lao động thủ công nên xã viên dôi dư nhiều. Để giải quyết công ăn việc làm và thu nhập cho số người này chú Tùng đã nghiên cứu lập đề án chuyển bớt họ sang làm du lịch cộng đồng, mở ra một ngành nghề mới cho quê mình đấy, em ạ.
Lâu nay Nghĩa đã từng lo đến mất ăn mất ngủ về việc làm cho số lao động dư thừa khi thực hiện việc thu hái và chế biến chè bằng máy của Hợp tác xã mà chưa tìm ra cách. Nghe Bảo nói vậy chị vội hỏi:
– Du lịch cộng đồng là làm những việc gì?
Đến lượt Tùng trả lời:
– Chúng ta sẽ tạo ra các “tua” du lịch đến Văn Long. Việc này anh Bảo đã bàn với Phòng Văn hóa huyện rồi. Họ sẽ phối hợp để các “tua” du lịch đi Vườn Quốc gia Phìa Boóc lấy Văn Long làm điểm dừng chân. Đội ngũ hướng dẫn viên của xã sẽ bố trí chỗ ăn nghỉ cho khách, rồi đưa họ đi tham quan dàn cọn nước ven suối Chiềng cõng nước lên tưới cho ruộng bậc thang, thăm thung lũng Moong tẻ với những đám mây mầu vàng trôi trên đỉnh gò, ngắm những đồi chè xanh ngắt lấp loáng trong sương sớm, thăm thác Hồng Hoang bồng bềnh trong nắng và khu nuôi cá tầm của chúng ta.
Mừng phấn khởi nói tiếp:
– Để có điểm cho khách nghỉ ngơi, anh Tùng bàn sẽ vận động dân Văn Long tách bớt một số hộ vào Suối Lạnh, cất các ngôi nhà sàn như của mình đây để vừa ở, vừa làm du lịch sinh thái. Đoàn Thanh niên bọn em sẽ vận động đoàn viên lập các nhóm tự tay nấu các món ăn của người Mường, người Dao như cơm lam, xôi ngũ sắc, cá nướng, thịt lợn muối chua, thịt trâu sấy gác bếp, các món rau đồ và các món ăn đặc sản chế biến từ cá tầm để phát huy nét đẹp văn hóa ẩm thực thu hút khách. Các nhóm này còn được học cách hướng dẫn khách tìm hiểu, khám phá bản sắc văn hóa Mường, Dao quê mình như đâm đuống, múa mỡi, xinh tiền, hát giang, hát ví, cấp sắc, tết nhẩy và đánh đu nữa.
Nghe mọi người nói Nghĩa thấy nhẹ hẳn lòng. Chị thực sự xúc động. Con người Tùng đã trải qua những bước lầm lỗi khi phụ bạc mảnh đất này, giờ đã tỉnh ngộ, biết đem các kiến thức hội nhập ở các vùng quê khác về nâng tầm vị thế cho đồng đất quê hương. Bây giờ anh còn xử lí những ách tắc về lao động dôi dư trong đề án phát triển vùng chè của chính chị.
Bỗng nhiên chị nhớ tới lời của Bác Hồ:
“Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa”.
Trước đây Tùng đã bị một phần nhỏ trong sự trì trệ của xã hội cũ thao túng trở thành kẻ không ra gì. Bây giờ anh đang trên đường tự cải tạo để hòa nhập vào xã hội mới văn minh. Làng xóm Văn Long cũng mở lòng, chỉ ra bao nhiêu điều tốt đẹp để anh biến những ấp ủ của mình thành các hoạt động quảng bá văn hóa các dân tộc từ xa xưa đang lưu dấu ở đất này.
Còn chị, chẳng lẽ trước những cố gắng của anh chị vẫn cố chấp?
Trong lòng Nghĩa dâng trào một cảm xúc xao xuyến, vừa thương chồng, vừa thương mình. Chị như người đang ở giữa đêm đông giá lạnh, được hơi bếp lửa hồng sưởi ấm, làm bồng lên những ước vọng hạnh phúc. Ý nghĩ giục chị mở lòng đón Tùng quay về làm lại cuộc đời cứ lớn dần, lớn dần rồi choán hết tâm trí. Chị âu yếm nhìn chồng rồi mỉm cười.
Thoáng cái trời đã gần sáng. Trên đỉnh gò Moong tẻ đôi chim “bắt cô trói cột” đã gặp được nhau. Tiếng của chúng xoắn lại, buông vào không gian những dư âm tràn trề hạnh phúc.
V.Q.K








