Sau bao năm mong ước, sáng ngày 24/4/2019, từ quê hương Phú Thọ, tôi mới có dịp tới viếng thăm khu di tích Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – Phụ thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đây là quần thể kiến trúc văn hóa tâm linh độc đáo, mang phong cách Nam bộ, ở số 123/1, đường Phạm Hữu Lầu, phường 4, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, đã được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích Lịch sử Quốc gia ngày 09/4/1992.
May mắn cho tôi được anh Trần Thái Hùng, sinh năm 1949, người địa phương, vốn là đồng đội chiến đấu cũ thân thiết thời kháng chiến chống Mĩ trên chiến trường Đồng Tháp Mười. Nay anh rất nhiệt tình đưa tôi đến thắp hương trước phần mộ Cụ Phó bảng và giới thiệu cho tôi biết về khu di tích này được khởi công xây dựng ngày 22/8/1975 và khánh thành ngày 13/02/1977, với tổng diện tích 3,6 ha, giữa trung tâm thành phố Cao Lãnh, trên bờ phía Đông sông Tiền, nơi có Quốc lộ 30 chạy qua, với đủ các phương tiện giao thông thủy, bộ, thuận tiện cho đồng bào ta về thăm viếng, tưởng nhớ công ơn cụ Phó bảng. Khu di tích được chia thành 03 khu vực chính gồm: – Khu lăng mộ Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc; Khu nhà sàn Bác Hồ và khu Ao Sen.
Ngôi mộ Cụ Phó bảng quay về hướng Đông, có mái bê tông hình cánh sen cách điệu, giống hình bàn tay xòe ra úp xuống. Trên mái đắp nổi tượng chín con rồng, tượng trưng cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, luôn che chở và bảo vệ ngôi mộ người chí sỹ yêu nước, thương dân. Mộ được ốp bằng đá hoa cương, nền mộ bằng đá mài hình lục giác không đều, mở rộng dần ra hai bên và phía trước. Trên mộ có gắn tấm ảnh chân dung khắc đá của Cụ Phó bảng đặt trước chiếc đỉnh trầm bằng đá Ngũ Hành Sơn, ngày đêm tỏa khói hương thơm ngát. Khuôn viên lăng mộ có nhiều loại cây cảnh, hoa quả quý hiếm được đồng bào cả nước mang về trồng lưu niệm. Trong đó, có cây khế nằm bên trái mộ và cây sộp nằm bên phải mộ, cả hai cây đều đã hơn 300 tuổi. Phía trước mộ là khu Ao Sen hình ngôi sao 5 cánh, chính giữa xây một đài sen trắng hình cách điệu, cao gần 7m, tượng trưng cho cuộc đời thanh bạch, lương tâm trong sáng, cốt cách hiên ngang của Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và đó cũng là biểu tượng cho quê hương Đồng Tháp, xứ sở của hoa sen – trở thành loài hoa quốc bảo. Nhà Lưu niệm trưng bày nhiều hiện vật, tư liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Cụ Phó bảng, nhất là thời gian cụ sống và làm việc tại Cao Lãnh, vùng đất Nam Bộ. Khu nhà sàn Bác Hồ được phục chế nguyên mẫu, như nhà sàn của Bác ở phủ Chủ tịch, Hà Nội.
Hàng năm, vào ngày 27/10 âm lịch, nhân dân các vùng lân cận lại hội tụ về khu di tích tham dự lễ giỗ Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc trong không khí thành kính, trang nghiêm, đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tưởng nhớ công ơn của người chí sĩ yêu nước, thương dân – Phụ thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Tỉnh Đồng Tháp đã quyết định nâng ngày lễ giỗ Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hàng năm lên thành lễ hội cấp tỉnh. Thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao hấp dẫn và sinh động, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tới tham dự, đã phát huy được giá trị lịch sử văn hóa gắn liền với phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đặc biệt là ngành du lịch lịch sử cách mạng – sinh thái miệt vườn và vùng sông nước kênh rạch Đồng Tháp.
Cụ Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm Nhâm Tuất (1862), tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cha là Nguyễn Sinh Nhâm, mẹ là Hà Thị Hy. Lên 4 tuổi, Cậu đã phải mồ côi cả cha lẫn mẹ, về ở với người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Sinh Trợ. Năm 16 tuổi, Cậu được nhà Nho Hoàng Xuân Đường, ở làng Hoàng Trù (làng Chùa), nhận về nuôi dạy. Với bản tính thông minh, hiếu học, năm 1883, cậu được nhà Nho Hoàng Xuân Đường gả cô con gái lớn là Hoàng Thị Loan làm vợ. Lần lượt hai vợ chồng sinh hạ được 04 người con: Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh) và Nguyễn Sinh Sin (mất lúc nhỏ).
Năm Giáp Ngọ (1894), Cụ đỗ cử nhân. Năm Tân Sửu (1901), Cụ đỗ Phó bảng và năm 1906 nhậm chức “Thường biện Bộ lễ”, sau đó làm Tri phủ lĩnh nhiệm Tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Trong thời gian làm quan, Cụ tìm gặp và kết thân giao với các nhà Nho có cùng chí hướng yêu nước, thương dân như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Vương Thúc Quý, Trương Gia Mô… Cụ luôn đứng về phía người dân nghèo để bênh vực, thẳng tay trừng trị bọn cường hào, ác bá, hà hiếp, bóc lột nhân dân. Chính vì vậy, Cụ bị bọn gian thần tìm cách hãm hại và triều đình giáng cấp dưới hình thức “cải bộ kinh chức” (Tức là đổi về làm quan tại Kinh đô). Khi từ quan, Cụ cũng từ bỏ luôn cuộc sống giàu sang phú quý, hạnh phúc với vợ con của một mệnh quan triều đình giữa chốn kinh thành. Với chí lớn yêu nước, thương dân, Cụ một mình lặn lội đi vào các tỉnh phía Nam, rồi định cư lâu dài đến cuối đời ở vùng đất Nam Kỳ, nơi mới được khai phá, đời sống nhân dân còn vô cùng khó khăn, cực khổ, thiếu thốn trăm bề, nhưng tư tưởng của người dân địa phương vô cùng phóng túng “Trọng nghĩa, khinh tài” đã khiến Cụ yêu mến. Cụ chấp nhận cuộc sống cô đơn, bình dị, nghèo khó trong căn nhà lợp lá, vách lá, làm nghề dạy học chữ Nho và bốc thuốc chữa trị bệnh miễn phí cho dân nghèo. Mục đích của cụ là tuyên truyền, vận động nhân dân về tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc Pháp xâm lược và triều đình nhà Nguyễn thối nát, ươn hèn, đã cúi đầu dâng 03 tỉnh miền Đông Nam Bộ, tạo điều kiện cho quân Pháp chiếm nốt 03 tỉnh miền Tây Nam Bộ và xâm lược nước ta, trở thành nước An Nam bảo hộ thuộc Pháp, mang nỗi nhục mất nước, có tội lớn nhất với lịch sử dân tộc. Không những vậy, bọn tay sai bán nước cầu vinh còn cấu kết với thực dân Pháp ra sức đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân cả nước ta, do các sĩ chí sĩ và sĩ phu yêu nước lãnh đạo, gây ra bao nhiêu đau thương tang tóc cho đồng bào ta.
Sau năm 1917, Cụ Phó bảng thường lui tới hoạt động ở làng Hòa An, Cao Lãnh để tiếp tục truyền bá chủ nghĩa yêu nước cho nhân dân địa phương. Cụ mất ngày 27/10 năm Kỷ Tỵ (ngày 27/11/1929 dương lịch), hưởng thọ 67 tuổi, tại làng Hòa An, Cao Lãnh. Thể theo nguyện ước của Cụ, cũng là mong muốn của nhân dân địa phương, luôn ghi nhớ công ơn của bậc chí sĩ, hết lòng yêu nước, thương dân. Nhân dân làng Hòa An đã cử hành trọng thể lễ tang và đặt ngôi mộ Cụ ở phần đất gần chùa Hòa Long. Thực dân Pháp và Nam triều biết Cụ là người đã sinh ra “Lãnh tụ Cộng sản Nguyễn Ái Quốc” nên chúng phái quân lính theo dõi, giám sát chặt chẽ lễ tang Cụ. Sau đó, chúng còn ra lệnh cấm người dân địa phương không ai được dọn dẹp, vệ sinh, bồi đắp, tu sửa ngôi mộ Cụ Phó bảng. Nhưng nhân dân địa phương vẫn bí mật dùng xi măng, cát, sỏi đổ thành khối bê tông vững chắc bảo vệ ngôi mộ và đến ngày giỗ tết hàng năm, vẫn mang lễ vật hương hoa kính viếng hương hồn Cụ.
Tháng 8/1945, cách mạng thành công, Huyện ủy Cao lãnh tổ chức sửa sang và dựng bia trên ngôi mộ Cụ Phó bảng. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Tỉnh ủy Long Châu Sa (nay là một phần thuộc tỉnh Đồng Tháp) giao cho cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 311 và các đơn vụ bộ đội địa phương nhiệm vụ tổ chức xây dựng Tượng đài chiến sỹ ở ngã tư chợ Cao Lãnh và trùng tu ngôi mộ Cụ Phó bảng bằng gạch, xi măng, cát, sỏi, có trụ và hàng rào lan can bằng sắt bao quanh. Trên bia mộ có ghi dòng chữ: “Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, nhà chí sĩ cách mạng, mất ngày 27/10 năm Kỷ Tỵ 1929. Quân, Dân, Chánh Long Châu Sa lập”.
Có rất nhiều câu chuyện về đồng bào ta ở địa phương đã tổ chức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn ngôi mộ Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, đến ngày hôm nay và mai sau, làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn thâm độc phá hoại của kẻ thù. Điển hình nhất là thời kỳ sau ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc. Ở miền Nam, đế quốc Mĩ đã dựng lên chế độ tay sai bán nước Ngô Đình Diệm. Chúng đã thi hành luật 10/1959 “Đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, chúng mở chiến dịch “Tố Cộng”, tàn sát dã man những người kháng chiến yêu nước. Chúng không từ một thủ đoạn đê hèn nào để trả thù những người Cộng sản, trong đó có việc cho quân đào mồ, cuốc mộ, khai quật xác người chiến si cách mạng để phơi thây giữa đường, giữa chợ và ném xác xuống nước phi tang, nhằm đe dọa nhân dân ta và hòng tiệt giống nòi Cộng sản. Một lần chúng tổ chức cho quân lính đến định phá ngôi mộ Cụ Phó bảng, vì chúng bảo Cụ “mắc tội” đã sinh ra: “Lãnh tụ Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh”. Nhờ được cơ sở ta báo tin trước, nên hàng trăm đồng bào làng Hòa An, Cao Lãnh đã kéo đến đứng vây quanh khu mộ Cụ Phó bảng. Trước họng súng và lưỡi lê của kẻ thù, đồng bào ta vẫn bình tĩnh tuyên truyền, vận động binh lính địch, hiểu rõ về truyền thống đạo lý dân tộc, luôn kính trọng, biết ơn, tôn thờ bậc Tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những người đã khuất được yên nghỉ vĩnh hằng. Nếu kẻ nào phá mộ, hành hạ xác người đã chết là mang tội bất hiếu, tội lớn nhất của đời người, sẽ bị luật quả báo trừng phạt. Ví như việc triều đình Huế cho quân khai quật mộ và trả thù thân xác Cụ Phan Đình Phùng, đã dẫn tới hậu quả triều đình sụp đổ, nước mất, nhà tan, Nam – Bắc chia lìa, nhân dân ta chịu kiếp đọa đày, khốn khổ. Đồng bào ta còn nói lời ca ngợi chế độ XHCN ở miền Bắc, vẫn cho phép bảo vệ, giữ gìn, thờ cúng bình thường hai ngôi mộ củagia đình nguyên quan đại thần Ngô Đình Khả và vợ là Phạm Thị Thân, là cha mẹ đẻ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, an táng tại làng Đại Phong, xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Đây cũng là lời nhắn gửi cho chính quyền bù nhìn Sài Gòn biết rằng: – “Nếu mộ Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – Phụ thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đây bị phá, thì lập tức hai ngôi mộ song thân của ông Ngô Đình Diệm ở Quảng Bình, đồng bào ta cũng sẽ không để yên”. Cuối cùng bà con ta liền bồi thêm một câu có ý cảnh cáo: -“Ai mà chẳng mong muốn có mồ mả Tổ tiên, ông bà, cha mẹ, dù chôn cất ở đâu, do chính quyền phía bên nào kiểm soát cũng vẫn được yên ổn, để phù hộ cho con cháu. Cũng chẳng ai muốn mang trọng tội bất hiếu”. Từ tên chỉ huy đến bọn lính Ngụy hôm đó đều đã nhận thức được mối hiểm họa cho bản thân và gia đình, như lời đồng bào ta nói. Chúng lặng lẽ rút lui và từ đó không còn thấy chúng dám xâm hại ngôi mộ Cụ Phó bảng, vẫn vẹn toàn đến hôm nay và mai sau cho các thế hệ cháu con cả nước về thăm viếng, phụng thờ, tưởng nhớ công ơn của Cụ: Một nhà Khoa bảng vào đầu thế kỷ XX; một nhà Nho, chí sĩ cách mạng hết lòng yêu nước, thương dân. Cả cuộc đời Cụ đã gắn bó với dân, sống chết với dân. Phẩm chất cao quý đó của Cụ, có ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp đến những người con thân yêu của mình, đặc biệt là Nguyễn Sinh Cung. Điều này được thể hiện rõ trong cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã sử dụng các danh xưng: Từ Nguyễn Sinh Cung đến Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh. Tư tưởng yêu nước, thương dân, cuộc đời thanh liêm, không màng danh lợi, vinh hoa phú quý của Cụ Phó bảng, chắc hẳn sẽ là cội nguồn hình thành nên tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới. Người đã nâng tầm tư tưởng yêu nước, thương dân thuần túy của người cha, trở thành tư tưởng tiến bộ của Chủ nghĩa yêu nước, để hiến trọn trí tuệ thiên tài và cuộc đời trong sạch, giản dị của mình cho sự nghiệp cách mạng, đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất đất nước, Bắc – Nam sum họp một nhà, mang lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho toàn dân Việt Nam. Đây là di sản trường tồn, quý báu, vô giá nhất của Bác Hồ kính yêu để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.
B.N.Q








