NHỮNG NGƯỜI LÍNH CHIẾN
1
Thị xã vào mùa chớm đông. Những hàng cây sao dọc đường Nguyễn Huệ lá đã lấm tấm đổ vàng, không còn xanh mướt như những ngày mùa mưa đang rỉ rả. Bóng đèn đường tỏa ánh sáng vàng vọt, soi rõ những đoàn xe GMC phủ kín bạt, hối hả chạy từ căn cứ Plei Kần theo đường 14 về Plei Ku, rồi xuôi đằng Thuần Mẫn, Buôn Hồ, hay các căn cứ nào đó ở mạn An Khê, Bình Định.
Trái với không khí nhà binh nhộn nhạo, là những quán bar cafe rộng rãi ven con phố Ngọc Hồi, cùng các bản nhạc du dương, dành cho khách hàng quý phái. Ánh đèn ne-on dịu dàng mơn man những tà áo dài đài các, cùng với những bộ đồ vec-tông tươi mầu lịch lãm. Điệu van dìu dặt, khiến những bàn tay bám hờ vòng eo thon, nâng bước chân lả lướt, bâng khuâng vào những mê cung tình cảm.
Kim Ngọc lững thững dạo bước trên hè phố. Đến ngã tư Tạ Hiền anh thong thả dừng lại, cảm thấy như se lạnh, đưa tay kéo chiếc cổ áo, đánh mắt nhìn một vòng phía trước phía sau, rồi mới nhẹ nhàng bước lên tam cấp vào bar. Đây là một quán bar cafe có tiếng. Bảng hiệu bằng mi-ca có bóng đèn phía trong, làm nổi lên dòng chữ Mimosa. Anh chọn một bàn còn trống ở góc phòng, kéo ghế ngồi xuống. Ra dáng một người phong lưu, nhàn tản, anh đưa mắt hờ hững nhìn bao quát căn phòng một lượt, không bỏ sót một vị trí nào. Rồi cũng làm như lơ đãng, anh với tay lấy tập me-nu lướt qua.
Cô gái phục vụ mặc váy ngắn, áo có gắn phù hiệu bông hoa mimosa biểu trưng của bar, nhẹ nhàng bước tới. Từ khi anh bước vào bar cô đã để ý đến anh, và cũng như đối với mọi người khách khác, cô bước đến gần, cất giọng Huế dịu nhẹ, khẽ hỏi:
– Quý khách dùng cafe đen hay nâu ạ?
– Cô cho một ly đen đặc và ít đường.
– Dạ. Xin quý khách chờ cho một chút.
Rồi cũng làm như vô tình, cô đưa tay lên vuốt lại mấy sợi tóc mai lòa xòa trước trán và hỏi lại:
– À, xin quý khách cho biết mấy giờ rồi ạ? Hình như 9 giờ tối nay trên tivi có chiếu bộ phim “Chân trời tím” thì phải?
Kim Ngọc giơ tay đeo đồng hồ lên, rồi tỏ vẻ luống cuống:
– Thôi chết. Hôm nay tôi quên không đeo đồng hồ. Xin lỗi cô nhé! Nhưng tôi nhớ không nhầm thì bộ phim đó sẽ chiếu vào lúc 10 giờ đêm mai chứ?
– Thế ạ. Khả năng em nhớ không chính xác!
Cô gái kín đáo nhìn các bàn xung quanh. Mọi người đều đang mải mê đắm chìm trong tiếng nhạc, hoặc lầm rầm trò chuyện. Tất cả mọi quy ước mật khẩu đều đúng. Cô khẽ nói với Kim Ngọc:
– Xin quý khách chờ cho một lát. Cà phê của quý khách sẽ được mang tới ạ!
Khoảng mười lăm phút sau. Một đôi trai gái líu ríu bước vào bar. Người con trai trạc tuổi hai nhăm, hai sáu, mặc bộ đồ sỹ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Còn người con gái mặc áo dài mầu ngọc bích, cổ đeo chuỗi ngọc trai trắng, ở chính giữa có 3 viên ngọc mầu xanh nước biển. Họ bước đến gần bàn của Ngọc.
Bất chợt như nhận ra anh, cô gái reo lên:
– Anh Kim Ngọc! Tối nay anh cũng cafe à? Chúng em ngồi cùng bàn với anh được không?
Làm như bị bất ngờ, Kim Ngọc vui vẻ đứng lên. Cấp trên đã thông báo tên cô gái này là Nho Quế, một cái tên khiến anh thật ấn tượng. Theo phép lịch sự, anh khẽ nghiêng mình, nở nụ cười thân thiện, chào lại:
– Ok, chào Nho Quế! Mời các bạn tự nhiên. Rất hân hạnh được gặp hai người trong buổi tối thanh lịch này.
Rồi anh bắt tay người bạn của Nho Quế và chào bằng một câu tiếng Anh cửa miệng:
– Good evening!
Anh ta cũng giơ tay ra bắt, và vui vẻ chào lại Kim Ngọc bằng một câu tiếng Pháp:
– Bonsoir!
Nho Quế lịch thiệp, nở nụ cười hồn nhiên và cởi mở:
– Giới thiệu với anh Lâm Hạc, đây là bạn em, anh Kim Ngọc, thiếu gia đẹp trai, tài giỏi của nhà kinh doanh cafe Kim Bình nổi tiếng, nhà ở giữa phố. Còn giới thiệu với anh Kim Ngọc, đây là anh Lâm Hạc, bạn của Nho Quế, người Sài Gòn, mới được cấp trên điều động lên vùng đất Tây Nguyên đầy nắng và gió này, làm sỹ quan tùy tùng cho Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Kim Ngọc vui vẻ:
– Tôi là cháu gọi nhà kinh doanh cafe Kim Bình là bác. Nho Quế quá khen làm tôi bối rối. Phải như anh Lâm Hạc đây, vừa trẻ tuổi, vừa tài cao mới xứng với những lời khen như vậy. Mà sao Nho Quế chỉ giới thiệu anh Lâm Hạc là bạn? Phải giới thiệu là bạn trai để cho đúng nghĩa, thân mật và gần gũi chứ?
Nho Quế e thẹn:
– Bọn em mới quen nhau mà anh…
Lâm Hạc cả cười:
– Chúng tôi chỉ là bạn thôi. Cuộc đời lính chiến như Lâm Hạc chẳng biết nay sống mai chết ra sao. Nho Quế giới thiệu bạn là đúng đấy.
Nói rồi Lâm Hạc xoay người, bật hộp quẹt châm thuốc hút. Chỉ chờ có vậy, Nho Quế khẽ dúi vào tay Kim Ngọc một cuộn phim nhỏ bằng nửa ngón tay út. Kim Ngọc đón nhận và nhanh nhẹn cho vào túi quần. Mọi việc diễn ra trong tích tắc.
Khi điếu thuốc của Lâm Hạc vừa đỏ trên môi anh, thì cũng là lúc Kim Ngọc châm xong thuốc của mình. Mùi thuốc Salem thơm dịu, nhẹ nhàng quyện với hương cafe quý phái, xen lẫn tiếng nhạc du dương trầm bổng, khiến cho không gian trong bar trở nên ấm cúng đến nao lòng.
Bất giác Nho Quế giật mình.
Trên đốt gốc ở ngón giữa bàn tay trái của Kim Ngọc có đeo một chiếc nhẫn bằng bạc, dập một Hán tự. Y như những chiếc nhẫn cụ thân sinh ra ông nội của Nho Quế trao cho con cháu, đề phòng chiến tranh, giặc giã dễ dàng nhận ra nhau. Nho Quế tự hỏi, Kim Ngọc không cùng huyết thống với mình, sao lại có chiếc nhẫn này? Hay là mình mơ ngủ? Cô tự bấm vào tay mình. Không, cô không mơ ngủ. Chắc chắn rằng, thiếu gia Kim Ngọc kia đúng là người đang sở hữu vật bí mật gia truyền của dòng tộc nhà cô. Điều ấy khiến Nho Quế càng tin cậy vào người mà tổ chức bố trí để cô cộng tác. Lòng tin ấy mạnh đến mức suýt nữa cô buột miệng, hỏi Kim Ngọc về chiếc nhẫn anh đang đeo. May mà cô kìm lại được. Nguyên tắc bí mật không cho phép Nho Quế bộc lộ thân phận của mình cũng như đồng đội. Chỉ sơ sẩy một câu nói thôi là có thể làm công lao của cả một tập thể bao năm gây dựng đổ xuống sông xuống biển. Lời hứa “Sống để bụng chết mang theo” mà cô đã nguyện thầm trước tổ chức còn văng vẳng trong tâm can. Vì vậy cho dù tình cảm có thiêng liêng đến đâu, cô vẫn tự nhủ với lòng mình, coi như chưa bao giờ nhìn thấy chiếc nhẫn ấy trên tay Kim Ngọc.
Ba người rì rầm nói chuyện. Giọng của Lâm Hạc vẫn nguyên chất Sài Gòn, êm dịu, thánh thót, quyện với giọng của Nho Quế và Kim Ngọc mang âm hưởng cao nguyên nắng gió, khiến câu chuyện giữa họ trở nên thân mật, gần gũi. Đặc biệt, qua giao tiếp, Lâm Hạc tỏ ra quý mến và trân trọng Kim Ngọc, không chỉ bởi sự tự nhiên lịch lãm của anh, mà còn vì anh là thiếu gia của một ông chủ cafe có tiếng ở vùng đất Tây Nguyên này.
Đêm dần buông. Tiếng nhạc trong bar cũng dần dần lắng lại. Lâm Hạc và Nho Quế chào tạm biệt Kim Ngọc. Kim Ngọc cũng bắt tay chào họ và không quên hẹn ngày gặp lại. Rồi cũng như lúc đến, anh bách bộ ra hè phố, lững thững tản bộ về nhà.
*
Sáng sớm hôm sau. Trời còn chưa sáng rõ. Tiếng con chim sâu lích tích trên cành lê-ki-ma đầu ngôi biệt thự 2 tầng như đánh thức cả bầy chim đua nhau cất tiếng. Không gian bừng tỉnh sau một đêm dài yên tĩnh. Những làn gió se lạnh của mùa chớm đông phảng phất hơi sương, la đà len lỏi qua dẫy phố còn đang ngái ngủ. Trời cao nguyên như cô gái chớm đến tuổi dậy thì, còn e lệ với những đổi thay trong cơ thể căng tràn sức sống. Mặt trời vẫn chìm dưới chân núi Ngọc Linh. Những tia sáng cũng mới ngập ngừng, chưa đủ sức làm bật dậy vùng đất phía Bắc Tây Nguyên đài các, hùng vĩ và thơ mộng này.
Kim Ngọc thức giấc. Anh nằm im, lắng nghe những âm thanh trong trẻo ngoài cửa sổ, để tâm hồn được thư thái sau những bộn bề của cuộc sống. Nhưng, cũng không yên lặng được bao lâu. Lát sau, cả khu biệt thự Kim Bình thức dậy, ríu rít nói cười vui vẻ. Tiếng trẻ nhỏ ê a đùa nghịch. Tiếng người lớn thanh thanh nhắc nhở con cái. Tiếng người già khàn đục dạy bảo gia nhân.
Kim Ngọc làm vệ sinh cá nhân, rồi cùng gia đình ăn sáng. Anh vừa nhâm nhi ly cafe điểm tâm, vừa sẽ sàng thưa với bác Kim Bình về công chuyện áp tải xe chở phụ kiện máy móc cho đồn điền cafe trên Sa Thầy.
Ông Kim Bình vui vẻ:
– Vậy cháu lên giúp bác nhé!
– Dạ!
Cạn ly cafe, Kim Ngọc chào ông bà Kim Bình, rồi xách chiếc ca-táp mầu nâu đựng giấy tờ bước ra cửa. Chiếc xe Peugeot bán tải chở hàng đã đỗ sát mép hiên. Ông Kim Bình ra tận nơi, bảo Kim Ngọc:
– Cháu nhớ nhắc công nhân việc tưới nước đầy đủ cho cafe nhé! Mùa này cafe chuẩn bị ra hoa, nên nhu cầu về nước rất cần kíp đấy.
– Vâng. Cháu nhớ rồi!
Rồi anh quay lại, cẩn thận hỏi người lái xe:
– Anh Huỳnh xếp mấy đoạn ống bơm hôm qua tôi dặn lên xe chưa vậy?
– Dạ, tôi xếp rồi ạ.
– Để tôi kiểm tra lại cho chắc ăn. Đường đã xa, lại còn bom đạn thế này, cẩn thận cũng không thừa!
Nói xong anh bảo Huỳnh mở cửa đuôi xe, rồi loay hoay kiểm kiểm, đếm đếm. Trong lúc làm việc, anh nhanh tay giấu một ống tuýp nhỏ xuống dưới đáy thùng đựng ốc vít. Xong xuôi, anh đóng cửa xe, và hỏi lại bác Kim Bình:
– Bác còn dặn cháu gì nữa không ạ?
– Thôi cháu! Anh em đi đi không nắng lên bây giờ.
Chiếc xe rú ga, rởi khỏi những dãy phố còn đang lấp lánh ánh đèn. Con đường 14 rải nhựa đã lâu nhưng ít được sửa chữa, vừa nhỏ vừa lởm chởm ổ gà, cứ hun hút lùi lại phía sau. Từng vạt cỏ tranh nửa xanh nửa vàng ở hai bên đường cũng hấp tấp chạy lui, như thi cùng tốc độ xe. Kim Ngọc ngồi bên ghế phụ, kể chuyện làm lái xe Huỳnh thỉnh thoảng lại cất lên tiếng cười vui vẻ. Hôm nay Kim Ngọc mặc bộ đồ rằn ri thủy quân lục chiến, nên người ngoài nhìn vào thấy anh có vẻ phong trần. Xe lắc lư.
Bỗng lái xe Huỳnh quay sang, lộ rõ vẻ nghiêm trọng, nói nhỏ:
– Hôm qua cánh Giải phóng vừa “úp sọt” mấy chiếc xe GMC chở lính Quốc gia ở đằng kia. Đụng độ tơi bời. Quân Quốc gia hơn chục binh sỹ tử trận. Số còn lại chạy bán sống bán chết về thị xã, không kịp cả lấy xác chiến hữu.
– Thế mấy ông giải phóng có ai bị sao không?
– Chắc không. Các ổng đánh theo kiểu “úp sọt” mà. Họ cứ chủ động thoắt ẩn thoắt hiện, cánh lính Quốc gia chẳng biết đằng nào mà lần. Mấy tướng lĩnh Sài Gòn cứ tưởng ban ngày có thể quản lý được, muốn đưa quân đi lấn chiếm đất, giống như mấy năm trước ở Ngọc Bờ Biêng. Ai dè bị Giải phóng phục kích, đánh cho te tua.
Rồi anh ta xuống giọng:
– Mà qua đoạn khúc cua trước mặt là đến đất Giải phóng rồi. Chẳng còn phải lo Quốc gia bẻ hành, bẻ tỏi gì nữa.
Kim Ngọc cũng nhẹ lòng, hỏi lại mà như không hỏi:
– Thế à. Đã đến đất Giải phóng rồi à?
– Dạ!
Từ đó hai người yên lặng. Kim Ngọc hít một hơi thở sâu. Lồng ngực như căng tràn sức sống. Anh nhớ lại kỷ niệm với những người đồng đội của mình, đặc biệt với Thanh Lương và Thanh Nguyễn.
*
Dịp ấy, cách đây thấm thoắt đã 4 năm, đúng vào ngày anh nhập ngũ 14 tháng 9. Sau khi hoàn thành khóa bồi dưỡng ở trường đào tạo cán bộ B trưởng Đồi Mây, đơn vị Kim Ngọc về quê hương Bách Thanh tuyển quân. Trong số những tân binh được phân về trung đội của anh, có hai chiến sỹ tuy ở khác xã với Ngọc nhưng lại cùng họ, cùng tên đệm là Hà Thanh Lương và Hà Thanh Nguyễn. Anh hơn họ 4 tuổi, vào quân ngũ trước, trông dầy dạn phong sương. Còn họ chưa qua trận mạc, nên vẫn nguyên vẻ thư sinh, nho nhã.
Không hiểu sao với hai chàng trai này Ngọc rất có cảm tình. Nhất là Hà Thanh Nguyễn, một thanh niên Công giáo đẹp trai, vừa mới cưới vợ, vậy mà đã kiên quyết cắt máu đầu ngón tay ký vào đơn xung phong nhập ngũ cho bằng được.
Nhưng ở đời hễ ai nổi trội lên điều gì là có người yêu kẻ ghét. Nguyễn và Lương nhập ngũ đợt này cũng không phải trường hợp ngoại lệ
Những người tử tế, hồ hởi bảo với Ngọc: “Đây là hai chàng trai tuyệt vời của họ đạo chúng tôi. Vừa ngoan ngoãn lễ phép, vừa không từ gian khổ, không ngại khó khăn, hết mình vì làng xóm”. Rồi họ động viên, khích lệ hai chàng trai “Cố lên các cháu. Cha ông chúng ta đã dạy “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Huống chi mình là thanh niên sức dài vai rộng. Mong các cháu lên đường chân cứng, đá mềm, xứng đáng với lòng tin yêu của bà con họ giáo nhé”
Còn những kẻ miệng lưỡi thờn bơn thì cố tình bắn đến tai Kim Ngọc những lời dèm pha “Thằng Nguyễn mồ côi bố mẹ. Đã cù bơ cù bất, cô dì chú bác chẳng có ai, lại cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Đến cưới vợ cũng phải nhờ nhà vãi (gia đình bên vợ) lo cho, nên xung phong đi bộ đội để kiếm cái ăn. Còn thằng Lương vốn dĩ vô công rồi nghề, chữ có hay nhưng cầy không biết. Vì thế mới xin vào lính bám Nhà nước, chứ báu bở gì hai thằng ấy”.
Nghe những lời đó Kim Ngọc càng thương Nguyễn và Lương hơn. Hình như đúng với câu cửa miệng của các bậc túc nho ở Bách Thanh “Quê hương bốn bể là nhà, Người dưng chân thật càng là anh em”, nên anh luôn dành cho hai chàng trai cùng họ, cùng tên đệm của mình những sự chăm lo nhiều nhất có thể.
Kể từ đó, trong huấn luyện ở ngoài Bắc hay vào chiến đấu ở chiến trường miền Nam, Kim Ngọc đều bố trí cho Hà Thanh Lương, Hà Thanh Nguyễn ở cùng một tiểu đội. Đáp lại tình cảm của Ngọc, Lương và Nguyễn cũng rất quý mến người Trung đội trưởng của mình. Tình cảm thân thiết đến mức đi đâu anh em cũng nhớ về nhau, có niềm vui, nỗi buồn gì anh em cũng chia sẻ với nhau. Điều ấy khiến cho mọi người trong đơn vị đoán già đoán non họ có quan hệ ruột rà máu mủ.
Nhớ ngày mới vào chiến trường. Trung đội Kim Ngọc được lệnh tham gia phối thuộc cùng đơn vị pháo C12 của bộ đội địa phương đánh sân bay Cù Hanh. Đúng 15 giờ. Trận địa pháo của ta đặt cách 5 km bắt đầu cấp tập nã đạn vào sân bay. Những tiếng nổ kinh thiên động địa. Những đụn lửa ngùn ngụt bùng lên, thiêu cháy những máy bay xấu số. Còi báo động rú lên. Các đơn vị trực chiến của địch nháo nhác. Pháo ta cấp tập bắn vừa xong. Vài chiếc máy bay trúng đạn còn đang bốc cháy dữ dội. Kim Ngọc đã lệnh cho đơn vị rút ngay về tuyến sau, chỉ để Lương và Nguyễn cùng anh ở lại chặn địch. Chính lúc đó quân địch ở các căn cứ gần đấy được lệnh túa ra, vây kín trận địa. Nhưng lúc này tất cả chỉ còn là khu rừng trống, không một bóng người. Bọn chúng hậm hực, đốc nhau lùng sục xung quanh. Lập tức tại điểm ẩn nấp cách đấy hơn trăm mét Ngọc cho Lương và Nguyễn chập hai đầu dây điện, kích hoạt các trái mìn Claymo mà bộ đội ta gài sẵn quanh trận địa từ trước. Những tiếng nổ chát chúa rền vang. Địch chết như ngả rạ. Lúc ấy ba anh em mới bình tĩnh rút về hậu cứ.
Ấy thế mà ngày hôm sau Đại đội 1 đặc công được giao tập kích Trường sĩ quan Quân đoàn 2 nguỵ, chỉ vì chủ quan cho anh em chậm lui quân, đã bị hy sinh mất 2 người. Thì ra kinh nghiệm của người chỉ huy trận mạc quả là quan trọng.
Lại đến trận đánh địch ở Plei Ode. Kim Ngọc với trách nhiệm Trung đội trưởng đi trước. Anh bảo Lương, Nguyễn và anh em bám theo sau. Ngọc dẫn anh em đi theo lối mòn nhỏ, qua một khu rừng non xen lẫn nhiều bụi le. Vừa đi anh vừa chỉ cho mọi người thấy dấu những vị trí đặt mìn Clâymo mà du kích vừa tháo dỡ. Khi vừa nhô ra một bãi trảng nhỏ, bỗng có tiếng lính địch í ới và những tiếng súng chát chúa xả ra từ ven bìa rừng đối diện. Kim Ngọc lập tức cho trung đội tản ra, lợi dụng địa hình địa vật, vừa ẩn nấp, vừa nổ súng đánh địch. Những tràng AR15 của chúng bay chiu chíu, đạn cối cá nhân M79 nổ toóc đùng loạn xạ.
Kim Ngọc động viên anh em, rồi bình tĩnh dẫn trung đội vòng sang phía trái, đánh tạt sườn đội hình địch. Anh lệnh cho khẩu trung liên duy nhất của trung đội, do Lương và Nguyễn là xạ thủ bắn trực diện, còn anh em bắn AK và ném lựu đạn vào chốt địch. Bọn địch bị tấn công kêu la ôi ối một lúc, rồi im bặt. Thì ra chúng đã chết và bị thương già nửa. Số còn lại cắm đầu cắm cổ tháo lui không kèn không trống, bỏ lại khá nhiều ba lô, súng đạn và quân trang. Về phía trung đội của Ngọc chỉ có 2 chiến sỹ bị thương qua quýt.
Thu hồi chiến lợi phẩm xong, Trung đội trưởng Kim Ngọc căn dặn anh em “Vào chiến trận phải hết sức bình tĩnh, linh hoạt, biết tiến biết thoái đúng lúc”. Đó là những kinh nghiệm tuy nhỏ, nhưng là bài học lớn mà anh là người đi trước truyền đạt lại cho lớp người đi sau, nhất là cho hai người em đồng hương mà anh yêu quý, để họ quen dần với lửa đạn chiến trường.
Sau trận ấy, Kim Ngọc viết một bài ký được Đài Phát thanh Giải phóng đọc đến mấy buổi. Các anh lãnh đạo cấp trên mê tín lắm, nhất là thủ trưởng Khoát. Thủ trưởng xuống tận trung đội động viên anh về làm lính tuyên văn Trung đoàn. Nhưng Kim Ngọc nằng nặc xin ở lại đơn vị chiến đấu, với lý do đấy là mong mỏi của anh. Thậm chí anh còn viện dẫn cả câu thơ “Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ, Hơn ngàn trang giấy luận văn chương” của nhà thơ Tố Hữu ra để chối từ.
Kể ra ý kiến của Kim Ngọc chưa hẳn đã đúng, nhưng cũng có cái lý phải. Chả là, từ khi còn học phổ thông, Kim Ngọc đã có năng khiếu về môn Văn. Anh ao ước được trở thành nhà văn. Nhưng cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đã lôi cuốn cả một thế hệ thanh niên như anh, tạm gác ước mơ cầm bút để cầm súng. Dù vậy, lòng yêu văn chương vẫn thỉnh thoảng thúc giục Kim Ngọc sáng tác. Vì đó cấp trên càng thêm quý mến anh.
Về tình cảm giữa Ngọc, Lương và Nguyễn. Gắn bó cùng nhau đã mấy năm, bây giờ tuy vẫn ở cùng mặt trận, nhưng ba anh em đã phải xa nhau. Xa thì xa nhưng mỗi khi rảnh rỗi Kim Ngọc lại nhớ đến Lương và Nguyễn. Ngay lúc này, ngồi trên xe không phải bận tâm gì, những kỷ niệm về ba anh em lại ùa về trong lòng Kim Ngọc.
Chiếc xe đi vào đoạn đường xấu, Kim Ngọc hết lắc sang phải, lại nghiêng sang trái, khiến đầu óc anh trở về thực tại. Anh đưa mắt nhìn những mảng hoa dã quỳ vàng như mầu nắng tràn ra cả mép đường. Mùa này là mùa của dã quỳ. Bất giác trong lòng anh lại vang lên những câu thơ về loài hoa này mà anh mới viết trước khi về thành phố theo nhiệm vụ của Tham mưu trưởng Hạ Lan giao. Chưa kịp nhẩm lại những vần thơ đó thì chiếc xe đã dừng lại trước căn nhà nhỏ có biển hiệu “Văn phòng Cafe Kim Bình” ở Sa Thầy. Kim Ngọc gọi vào nhà:
– Anh Luân ơi, cho người ra xuống hàng nhé!
Có tiếng ồn ã, rồi một nhóm người chạy ra. Lái xe Hoàng mở cửa sau xe, chỉ cho họ khiêng vác các thiết bị máy xuống. Kim Ngọc vờ xem xét, rồi nhanh tay lấy đoạn ống tuýp nhỏ của anh đút vào túi.
Sau khi thay bộ quân phục rằn ri thủy quân lục chiến đang mặc bằng bộ quần áo ni-lon mầu xanh đen, Kim Ngọc khoác chiếc túi bòng may bằng vải dù mỏng chứa tăng võng lên vai, rồi nổ máy chiếc Honda 67. Anh tăng ga. Chiếc xe bon bon trên con đường mòn quen thuộc, men theo dãy cafe ven bờ sông Sa Thầy, phóng về phía hạ lưu. Bất giác anh chụm miệng, huýt một bài sáo quen thuộc “Anh vẫn hành quân”. Tiếng huýt sáo lẫn vào tiếng gió, tạo ra một âm thanh dìu dặt.
*
Hậu cứ của Bộ Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên nằm ven con suối Đắc Mây, gần đường 14C, trong cánh rừng ngút ngát ở thung lũng Sa Thầy. Những thân cây cả người ôm chen nhau mọc san sát. Đại bản doanh là những căn nhà âm, cột bằng thân cây săng lẻ chôn rông. Kèo, đòn tay bằng lồ-ô nguyên cây. Mái lợp cũng lấy lồ-ô bổ đôi úp âm dương như lợp ngói ống ngoài miền Bắc. Nền nhà được đào sâu đến đầu gối, nện nhẵn thín. Xung quanh tường được đắp bằng đất nện dày chừng hai gang tay, cao đến ngang bụng. Những chiếc giường chân bằng cây rừng có ngoãm, thang là lồ-ô, trải giát cũng bằng lồ-ô. Bàn làm việc cũng y như giường, chỉ khác là nhỏ và cao vừa tầm người ngồi.
Tham mưu trưởng Hạ Lan đang chăm chú làm việc thì Thanh Hạnh bước vào, cất giọng hồ hởi:
– Báo cáo Tham mưu trưởng, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ.
Hạ Lan ngẩng đầu lên. Cặp mắt thâm quầng vì thiếu ngủ lóe lên vẻ vui mừng phấn khởi:
– A! Đồng chí Kim Ngọc, không phải, đồng chí Thanh Hạnh mới đúng về rồi à? Tốt quá! Ruột tớ đang nóng như có lửa đốt đây.
Thanh Hạnh móc từ trong túi áo ngực ra một ống nhỏ như tuýp thuốc Aspirin đưa cho Tham mưu trưởng. Hạ Lan cười lớn rồi bảo:
– Để đấy cho tớ. Z5 khỏe không? Khỏe hả. Thôi giờ cậu về nghỉ ngơi đi. Có gì tớ sẽ cho người gọi.
Thanh Hạnh cũng nở một nụ cười. Anh hiểu công việc của mình đã xong. Không để tốn thời gian của cấp trên, anh dập gót chào Tham mưu trưởng, rồi xin phép về lán của mình.
*
Cách đây già nửa tháng. Hà Thanh Hạnh đang cùng đồng đội trinh sát, lập kế hoạch tập kích căn cứ Thuần Mẫn. Đây là phương án nhằm cắt đứt tuyến phòng thủ nối Nam Bắc Tây Nguyên, khiến địch không thể ứng cứu được nhau khi bị ta tấn công. Việc chưa xong, anh đã nhận được lệnh tập trung tại Bộ Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên nhận nhiệm vụ mới.
Đã là người lính thì ai cũng phải nhất nhất tuân lệnh cấp trên, và Hạnh cũng như vậy. Về đây Hạnh mới biết anh được thủ trưởng Khoát – Trưởng phòng tác chiến Mặt trận B3 tin cậy, bảo là một trinh sát cừ, nhanh nhẹn, đặc biệt có khiếu ứng biến văn chương, nên tiến cử với Bộ chỉ huy chiến dịch điều anh về làm trợ lý cho Tham mưu trưởng.
Nhớ đến người thủ trưởng đồng hương da bánh mật, phương phi, có cái miệng rộng, mỗi khi cười hàm răng “chín sáu ba không” lại phô ra, tự nhiên những kỷ niệm về người thủ trưởng cũ lại ùa về trong anh.
Hồi đó đơn vị anh đang đóng quân tại Bắc Kon Tum làm nhiệm vụ giữ đất vùng giải phóng, không cho quân địch lấn chiếm. Hiệp định Pa-ri đã ký kết rồi, nhưng quân ngụy vẫn xua quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta, nên những trận chiến cam go, chênh lệch cả về quân số lẫn vũ khí đạn dược vẫn nổ ra triền miên, khiến trung đội anh luôn thiếu hụt về mọi mặt. Đợt này có đơn vị mới tăng cường, nên các anh được lệnh rút về hậu cứ, chờ bổ sung quân số và tổ chức lại. Trong lúc chờ đợi, Hạnh được phân công phụ trách tổ cơ yếu gác đài cho Tiểu đoàn làm đường 14C đoạn từ đèo Lò Xo đi Sa Thầy. Trùng hợp thế nào cấp trên lại bố trí Hà Thanh Lương, Hà Thanh Nguyễn vào tổ cùng anh. Nhiệm vụ của tổ là quản lý hai máy P105 của Liên Xô, nghe, nhận và trả lời các bức điện tín, đảm bảo liên lạc thông suốt giữa cấp trên và cấp dưới. Tổ cơ yếu đóng chốt ở chạc ba cây bằng lăng trên điểm cao 1007.
Tình cảm giữa ba anh em đồng hương từ ngày nào đã như ruột thịt. Về đến đây càng có điều kiện gắn bó hơn. Việc gác đài bảo là nhàn cũng nhàn, mà bảo là bận cũng bận. Bận bởi lúc nào cũng phải có người trực, còn nhàn vì trong ba anh em chỉ cần bố trí một, hai người trực, không cần cả ba, nên cũng đỡ căng thẳng đầu óc.
Ở hậu cứ có nhiều điều kiện cải thiện. Rừng Tây Nguyên mùa này bạt ngàn xanh, rau măng, củ quả nhiều vô kể. Cứ xách bòng đi một lúc là đã đầy bòng mang về. Nào là môn thục, rau dớn, nào là măng le, măng lồ ô, nào củ cọc rào, củ mài hay thân cây búng báng, rồi quả loòng boong, quả vải rừng. Chất tươi cũng có. Ban đêm thì đi đặt bẫy chồn, bẫy cáo. Ban ngày thì đặt bẫy bắt gà rừng, sóc, tê tê. Kỷ luật hậu cứ đặt ra không cho phép nổ súng săn bắt thú, nhằm giữ bí mật càng kỹ càng tốt. Thế nhưng ở vùng này thú dữ lại rất nhiều, chúng sẵn sàng tấn công con người, khiến có lúc những quy định của cấp trên cũng khó mà thực hiện được nghiêm chỉnh.
Ngay hôm cách đây hơn tháng. Hạnh và Lương đang ngồi trực trên chòi. Phía dưới hầm chữ A ở gốc cây bằng lăng Nguyễn đang chuyện trò cùng Xuân Thịnh, bạn học phổ thông, quê cũng ở ven sông Bùng, hiện là Thanh niên xung phong đóng quân bên kia suối Yến. Chả là Thịnh vừa đến chơi, mang cho ba anh em đầy một bòng búng báng để tăng chất cải thiện. Cô cũng lên chào tạm biệt mấy anh em đồng hương để đi học lớp đào tạo cấp tốc Bác sỹ chiến trường tại Quân khu đang chuẩn bị khai giảng. Câu chuyện giữa hai người đang rôm rả và tình cảm. Thỉnh thoảng tiếng cười của họ vọng lên khiến Hạnh và Lương cũng vui lây.
Bỗng nhiên phía bên sườn cao điểm vang lên những tiếng hộc man rợ của thú dữ. Tiếng cười của đôi bạn trẻ im bặt. Hạnh nhìn xuống hoảng hốt. Hai con gấu ngựa đang tranh mồi, cắn xé nhau và xông về phía Nguyễn. Một mình còn dễ xoay sở. Giờ có thêm Thịnh khiến Nguyễn bối rối. Anh vớ vội khẩu AK giơ lên hướng thẳng về phía những con gấu xiết cò. Viên đạn trúng bả vai con phía trước và chân con phía sau. Chúng hộc lên dữ dội và lao thẳng về phía Nguyễn. Anh xiết một loạt đạn nữa nhưng không trúng đích. Say máu, hai con gấu đạp qua đám cây dại lao đến gần Nguyễn, khiến anh luống cuống nắm tay Thịnh kéo về phía cửa hầm. Hạnh ở trên chạc ba nhìn xuống cũng hoảng tam tinh. Lao vào hầm lúc này là chúng đuổi kịp. Với sức mạnh của loài gấu thì dù có bị thương chúng vẫn là mãnh thú. Bàn tay chúng vốn dĩ đã mạnh mẽ lại đang bị kích động càng hung tợn. Chúng mà vả cho mấy cái thì cả Nguyễn và Thịnh chết không kịp ngáp.
Lập tức Hạnh tỉnh táo. Anh nhìn thoáng qua địa hình, rồi từ trên chòi quát xuống chỉ huy Nguyễn và Thịnh:
– Chạy xuống dốc, không được chạy lên dốc!
Nguyễn và Thịnh vội vàng kéo tay nhau nghe theo, bất chấp cây bụi và gai góc quất vào chân tay, mặt mũi. Họ ào xuống trước. Những con gấu lặc lè đuổi theo sau. Hai người chạy được một đoạn Hạnh lại gầm lên, át cả tiếng hộc của gấu:
– Dừng lại. Sắp đến vực đấy. Tạt nhanh sang bên phải.
Hai người như cái máy dừng lại trong tích tắc, rồi lao sang bên phải. Vừa lúc đó những con gấu đã đuổi sát phía sau. Thế nhưng chúng không kìm được đà, cứ thế cả hai phi thẳng xuống vực, để lại những tiếng rú man dại, kéo dài trước khi im bặt.
Giao cho Lương trực trên chòi. Hạnh vội leo thang xuống. Nhìn chân tay Nguyễn và Thịnh tóe máu, anh vừa xót, vừa mừng:
– Thôi, thế là an toàn rồi.
Sau khi được Hạnh băng bó, Nguyễn mới rụt rè hỏi:
– Em tưởng xác gấu cồng kềnh, chạy lên khó hơn chạy xuống. Sao anh lại hô chúng em chạy xuống dốc, mà không chạy lên dốc.
– Gấu ngựa có bờm trên mắt dày và rậm. Chạy xuống, bờm sẽ che kín mắt, khiến chúng không nhìn thấy đường. Phía dưới dốc có cái vực sâu. Anh hô các em chạy xuống sát vực, rồi dừng lại chạy sang ngang để cho gấu không nhìn thấy đường, cứ thế lao xuống vực. Kết quả có đúng không?
– Sao anh tài thế. Quê mình rừng rú có gấu đâu mà anh biết tập tục của chúng?
– À, anh có bạn là Bàn Văn Lâm người Dao trên thượng huyện chuyên đi săn gấu. Anh ấy kể chuyện nên anh nhớ.
– Hay thật! Ở với anh, bọn em biết thêm được khối chuyện nhỉ?
Lúc này Xuân Thịnh mới bộc bạch:
– Hôm nay may nhờ có anh, chứ không em chắc chết. Thực tình em chẳng biết nói thế nào để bầy tỏ lòng biết ơn đối với anh nữa.
– Ồi, có gì đâu. Mai kia lúc nào rảnh rỗi, em cứ đến chơi với bọn anh cho vui là quý rồi.
Tưởng thế đã là vãn chuyện. Không ngờ Hạnh còn có nghề lặn bắt cá suối rất thiện nghệ. Dưới chân cao điểm 1007 là con suối Yến chảy giữa khu rừng già âm u có cơ man là cá. Năm ngoái khi ông hoàng Căm Pu Chia Xi-ha-núc được bộ đội ta đưa về nước đã cùng vợ nghỉ ở đây và tắm ở dòng suối này. Nước suối trong và mát, lại thơm mùi hoa rừng như được pha kem. Một con thác đổ từ sườn núi xuống, tạo ra một vụng nước sâu không nhìn thấy đáy, trông chẳng khác Vực Trường trên con sông Bùng ở Bách Thanh. Chỉ nhìn qua Hạnh cũng biết dưới vụng nước này có rất nhiều hang hốc. Anh vốn rành kỹ càng tập tục sinh sống của những đàn cá ngạnh, cá lăng. Chúng thường lấy hang hốc đó làm nơi trú ngụ. Anh cũng quen với công việc lặn xuống, dùng tay tóm sống chúng.
Nghe Hạnh kể chuyện ở nhà đi lặn bắt cá trên sông Bùng, cả Nguyễn và Lương cứ há hốc mồm ra nghe. Tin thì tin nhưng cũng vẫn có chút hoài nghi. Thân cá ngạnh trơn nhẫy. Ở trên cạn nắm được chúng đã khó, bắt được chúng dưới nước còn khó gấp nhiều lần. Thế mà Thanh Hạnh bảo lặn xuống bắt nó trong hốc đá thì dẫu muốn tin cũng không dễ dàng gì. Chỉ đến khi câu chuyện hai con gấu tấn công Lương và Thịnh đến tai cấp trên, thủ trưởng Khoát đến kiểm tra, thì sự hoài nghi đó mới được cởi bỏ.
Chả là trưa hôm đó, anh Hạnh cắt cử Nguyễn và Lương ở chòi trực, bảo để anh đi kiếm cá về chiêu đãi thủ trưởng Khoát. Thế là sự chưa tin tưởng về tài bắt cá của anh Hạnh mới được hóa giải. Hạnh đi tay không, chưa đầy canh giờ đã xách về hai con cá lăng, mỗi con chừng ba cân đen óng, ngoắc vào cột hầm kèo dưới gốc bằng lăng. Lương và Nguyễn há miệng, trầm trồ thán phục.
Vẫn chưa hết. Chiều hôm đó Thanh Hạnh còn trổ tài nấu món cháo cá, khiến hai thằng em cứ mắt tròn mắt dẹt phục tài. Cái xoong quân dụng đặt trên bếp Hoàng Cầm cạnh hầm kèo lục bục sôi, tỏa ra mùi thơm quyến rũ. Vị cá béo, ngậy khiến mọi con tỳ con vị của các anh lính chiến như được gọi tên, reo réo trong bụng. Những cái nấm đùi gà được anh Hạnh hái sau những trận mưa đầu mùa đem phơi khô, giờ ngấm hương vị cá hầm. Tưởng tượng cắn vào ngập chân răng, tiết ra chất ngọt như sâm Hàn, khiến cho ai cũng thèm thuồng.
Lại còn hương vị đặc trưng của các loại lá rừng hái về ăn kèm như lá lồm, lá vón vén mà chỉ có anh Thanh Hạnh từng trải mới biết. Chính chúng là gia vị làm nồi cháo càng thêm hấp dẫn. Có chúng mùi tanh của cá bị triệt tiêu. Còn mùi thơm, vị béo ngậy được tăng lên đáng kể. Nghe Hạnh giảng giải, mọi người cười ngơ ngác. Đến cái tên nghe cũng lạ hoắc, chứ nào ai đã một lần được biết đến.
Thủ trưởng Khoát, một người có tài cầm quân đánh giặc giỏi, với những kế sách khôn ngoan, nhưng lại là người sành ăn có tiếng, cũng phải buông lời tấm tắc:
– Thế này thì mọi sơn hào hải vị chẳng thứ gì sánh được. Có điều kiện tớ phải trưng tập cậu về Sư đoàn nấu một nồi khao quân mới được.
Đến hết mùa khô, cung đường 14C nối đèo Lò Xo với Sa Thầy đã hoàn thành. Tổ đài của Hạnh giải thể. Ba anh em lại được điều chuyển công tác. Có điều Thanh Hạnh về đơn vị trinh sát tiểu đoàn, còn Nguyễn và Lương về đơn vị chiến đấu.
Sau một năm chiến đấu kiên cường, kinh nghiệm chỉ huy đơn vị đánh giặc, tài trinh sát, phán đoán các âm mưu thủ đoạn mà địch hay sử dụng của Hạnh càng ngày càng có điều kiện bộc lộ. Bên cạnh đó năng khiếu văn chương và tài nấu ăn của anh cũng có điều kiện phát huy, khiến Hạnh càng lọt vào tầm ngắm của thủ trưởng Khoát. Có lẽ vì thế mà thủ trưởng đã tiến cử Hạnh với Tư lệnh Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên.
Và nửa tháng trước đây, anh đã được điều động về giúp việc cho Tham mưu trưởng Hạ Lan.
*
Hạnh đang lơ mơ với những kỷ niệm xưa cũ thì tiếng gọi của Tham mưu trưởng Hạ Lan ở phía ngoài khiến anh bừng tỉnh. Anh quay lại, chưa kịp chào thì Tham mưu trưởng đã xởi lởi:
– Thế nào, đang nhớ đơn vị cũ hả?
– Dạ, không ạ.
– Cậu ở Bách Thanh, cùng quê với anh Khoát à? Vào chiến trường lâu chưa vậy?
– Dạ vâng. Em cùng quê với thủ trưởng Khoát. Em vào đây được hơn 3 năm rồi. Ở ngoài đó thủ trưởng quê ở tỉnh nào ạ?
– Tớ quê ở vùng “Con bò vàng trên núi Ba Vì” đây. Nhập ngũ từ những năm Mỹ vừa đổ quân sang. Huấn luyện tân binh chưa hết bắn bài 1 đơn vị đã hành quân vào Nam chiến đấu. Đi bộ từ ngoài ấy vào đến đây tính ra ròng rã mất năm tháng liên tù tỳ đấy. Mà tớ hơn cậu có dăm bẩy tuổi, lại sát quê nhau nên từ giờ cậu cứ gọi tớ là anh thôi, đừng gọi là thủ trưởng nữa, nghe không gần gũi cho lắm.
Vừa nói giọng bình thường Hạ Lan vừa đệm giọng địa phương khiến không khí trở nên têu tếu. Hạnh cũng đế vào:
– Vâng. Thế là anh vào đây đã ngót 10 năm rồi còn gì. Em mới được hơn 3 năm. Từ hồi vào đây anh có được về thăm nhà lần nào không? Chị và các cháu chắc ở quê ạ?
– Nào đã được về lần nào. Chiến trận liên miên, đến người yêu còn chưa có, lấy đâu ra vợ với con. Vẫn độc thân và trinh nguyên. Cậu có cô chị nào chưa chồng, để dành cho tớ một nàng nhé. Giải phóng xong, tớ về phép là sắm lễ sang nhà tiến hành ăn hỏi và xin tổ chức cưới luôn. Bộ đội mà, việc quân là hệ trọng, mọi thứ khác chắc cũng chỉ phiên phiến thôi, cậu nhỉ?
Nói chưa dứt câu, anh đã cười khà khà, rồi bắt luôn vào chuyện công việc:
– Này, có việc cho cậu ngay đây. Cậu đã sẵn sàng chưa?
Đúng là khẩu khí của người luôn lấy công việc làm đầu. Hạnh cũng nghiêm túc, trả lời khảng khái:
– Em sẵn sàng rồi ạ.
– Ngày mai đồng chí về Thị xã nhận một nhiệm vụ đặc biệt. Đồng chí sẽ mang tên là Kim Ngọc, qua môi giới đến “Văn phòng Cafe Kim Bình” ở Sa Thầy, rồi từ đó tiếp tục đến gia đình nhà kinh doanh cafe Kim Bình ở thị xã. Tại đây đồng chí sẽ gặp Z5, một cán bộ cốt cán của ta, nhận báo cáo rồi chuyển ngay về đây cho tôi. Mật khẩu liên lạc được ghi trong tờ giấy này. Đồng chí học thuộc rồi đốt đi. Nhiệm vụ này cũng khó khăn, nhưng có nhiều nét giống với việc trinh sát chiến thuật, lại hợp với khẩu khí văn chương thơ phú, nên chắc chắn cũng không làm khó cho đồng chí. Đồng chí thấy thế nào?
– Báo cáo. Tôi xin chấp hành ạ.
Tham mưu trưởng thân mật vỗ vai Thanh Hạnh:
– Bác Hồ của chúng ta đã dạy “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”. Muốn xe pháo của địch “lạc nước”, rơi vào thế trận “đành bỏ phí” thì kế sách nghi binh, lừa địch phải được chúng ta sử dụng một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo, khiến kẻ địch dù mạnh hơn phải đánh theo kế sách của ta. Đó cũng là chiến lược, chiến thuật chiến tranh nhân dân, mà ông cha ta bao đời đã dùng để chiến thắng các đội quân xâm lược nhà nghề.
Dừng lại giây lát như để Thanh Hạnh ngấm từng ý tứ câu nói của mình, rồi vừa như tâm sự, vừa như căn dặn, Tham mưu trưởng nói tiếp:
– Sau chiến thắng Phước Long đầu tháng 1 năm 1975 khiến Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bất lực không thể tái chiếm lại được, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu buộc phải ra lệnh để quốc tang 3 ngày, bắt đầu từ ngày mùng 9 tháng 1 năm 1975, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên, để đọ sức cùng lực lượng ngụy quân, ngụy quyền. Các sư đoàn chủ lực của ta cũng được Quân ủy Trung ương bố trí tập trung về quanh Bắc Tây Nguyên. Điều này khiến Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Họ đã điều động toàn bộ lực lượng Quân khu II, Quân đoàn II do Thiếu tướng Phạm Văn Phú làm Tư lệnh, cùng với Sư đoàn 23 do Chuẩn tướng Lê Trung Tường làm Tư lệnh, Đại tá Vũ Thế Quang làm phó Tư lệnh rồi Trung đoàn 44, Trung đoàn 45, Trung đoàn 53 với khẩu hiệu hành động “Nam bình, Bắc phạt, Cao nguyên trấn”, các Trung đoàn Pháo binh, Không quân, Hải quân thiện chiến, tập trung mọi điều kiện quân sự tốt nhất, mạnh nhất, thiết lập hệ thống tấn công và phòng thủ vững chắc để trấn giữ Tây Nguyên, đối phó với chúng ta. Công việc bây giờ cấp thiết lắm rồi. Đồng chí phải bằng mọi cách hoàn thành nhiệm vụ càng nhanh càng tốt nhé.
Thanh Hạnh dập gót giầy nghiêm trang đáp:
– Rõ.
Thanh Hạnh cũng hiểu quyết tâm chiến lược của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được Bộ Tư lệnh chiến dịch triển khai. Thế trận đã được điểm binh. Kế sách đã xác định rõ ràng. Mục tiêu đã được hoạch định. Chỉ còn chờ thời cơ nữa là chúng ta sẽ quyết chiến và quyết thắng.
Thanh Hạnh đã được nằm trong đội ngũ những người lính đi đầu trong cuộc dụng binh của Tham mưu trưởng. Nhiệm vụ liên lạc với Z5 đã được Thanh Hạnh hoàn thành. Cuộn phim nhỏ như tuýp thuốc Aspirin đã được anh mang về giao tận tay cho Tham mưu trưởng. Giờ đây anh lại nóng lòng chờ nhiệm vụ mới.
V.Q.K








