Thứ Sáu, 1 - 05 - 2026
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tác giả
    • Mỹ thuật
    • Thơ
    • Văn Học
    • Nhiếp ảnh
    • Âm nhạc
    • Múa
    • Sân khấu
    • Nghiên cứu Phê bình
    • VHNT các Dân tộc thiểu số
  • Thông báo
  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ
No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tác giả
    • Mỹ thuật
    • Thơ
    • Văn Học
    • Nhiếp ảnh
    • Âm nhạc
    • Múa
    • Sân khấu
    • Nghiên cứu Phê bình
    • VHNT các Dân tộc thiểu số
  • Thông báo
  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ
No Result
View All Result
Hội Văn Học Nghệ Thuật
No Result
View All Result

Trang Chủ » Bài thơ “Ngã ba Hạc Trì” của Tượng phong Ngô Quang Đoan

Bài thơ “Ngã ba Hạc Trì” của Tượng phong Ngô Quang Đoan

Thứ Năm, 16 - 11 - 2023
in Thể Loại Chung, Tác Phẩm & Dư Luận
A A
12
VIEWS
Chia sẻ FacebookChia sẻ Twitter

Tôi muốn đề cập đến bài thơ “Ngã ba Hạc Trì” của Tượng phong Ngô Quang Đoan sáng tác đầu thế kỷ XX (1903). Tôi đã có lần đàm đạo cùng nhiều bạn thơ đưa ra phân tích và so sánh cùng bài “Phong Kiều dạ bạc” – thơ đường của Trương Kế… (Đã có câu mọi sự so sánh đều khập khiễng). Đúng thế! Nhưng dù sao vẫn phải tìm ra một cái mốc nào đó để làm thước đo giá trị, ví như người nhảy cao hoặc xa thì cũng phải có cái mốc là thước mét, nên cũng thể tìm ra một mực thước để ướm.

Tôi đưa ra cái mốc: Bài “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế. Dân sành văn chương ai mà không thuộc bài này:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Nghĩa là: Trăng lặn, quạ kêu, đầy trời sương/ Gió sông cùng ngọn đèn trong thuyền đối nhau, nỗi buồn miên man/ Chùa Hàn Sơn ở ngoại thành Cô Tô/ Nửa đêm tiếng chuông vọng đến khách thuyền.

Đã có rất nhiều bản dịch khác nhau. Xin giới thiệu bản dịch của Tản Đà:

Trăng tà, chiếc quạ kêu sương

Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa

Hàn San.

Ở nước ta đầu thế kỷ XX vào năm 1903, thi nhân Tượng phong Ngô Quang Đoan – con trai cả Ngư phong Ngô Quang Bích (còn gọi là Nguyễn Quang Bích) lãnh tụ phong trào Cần Vương chống Pháp. Trên con đường “Trả thù nhà đền nợ nước” khi đi qua “Ngã ba Hạc” Ngô Quang Đoan đã để lại bài thơ này:

Bay đâu cánh Hạc năm xưa

Tìm đâu thấy bóng cố đô đất này

Xác xơ mấy chiếc tre gầy

Bên sông cời gió, nước đầy xôn xao

Vành trăng cuối tháng dần hao

Thuyền ai buông lái lặng chào bến sông

Liu riu ngọn lửa đêm đông

Một trời sương phủ cửa sông lặng tờ

Giật mình như tỉnh cơn mơ

Phía đồn rúc tiếng còi khuya lạnh người! (*)

Một bên là bài tứ tuyệt của Trương Kế đời Đường, ông mất 774; một bên là bài lục bát của Tượng phong Ngô Quang Đoan thời cận đại (1872 – 1945)… Tuy xa cách cả không gian và thời gian nhưng cảnh và người ở đây có những sự trùng hợp vô tình: Cũng một mom sông, cũng một trời đêm sương phủ, cũng một mảnh trăng, cũng một chiếc thuyền chài… Chỉ khác Trương Kế trăng dần lặn, còn Tượng phong là trăng cuối tháng lưỡi liềm (Vành trăng cuối tháng dần hao). Cùng là ngọn lửa, Trương Kế là ngọn lửa ông chài bên sông, còn Tượng phong là ngọn lửa “liu riu” trong đêm đông giá lạnh (của một con thuyền buông lái). Ngọn lửa ở đây ý tác giả như muốn nói đến ngọn lửa yêu nước, ngọn lửa cách mạng của một con người đang đi hoạt động tìm đường cứu nước!… Còn gió: Ở Trương Kế là ngọn gió bên sông (Giang phong) thì Tượng phong cũng là gió, nhưng gió của Tượng phong có khác hơn, gió như được sinh ra từ mấy ngọn tre dập dờn bên dòng nước xoáy: Xác xơ mấy chiếc tre gầy/ Bên sông cời gió nước đầy xôn xao. Trương Kế là gió sông… còn đây gió khẽ thổi qua cành tre lao xao trên làn sóng nước… gió được ngọn tre, “chiếc” tre “cời” lên. Khác lắm!… Nhưng đến câu kết ta mới thấy sức nặng của cả hai bài. Trương Kế kết bằng: “Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San”. Một âm thanh của tiếng chuông trong đêm đưa đến cho lữ khách bao nỗi buồn mênh mang, kể cũng đã tuyệt bút… Nhưng Tượng phong cũng là một âm thanh trong đêm khuya, nhưng không phải là tiếng chuông chùa ngân nga êm ả, mà là tiếng còi “rúc” chói tai… Tiếng “còi” thiết quân luật của đồn giám binh thực dân Pháp ở bến Gót Hạc Trì: Phía đồn rúc tiếng còi khuya lạnh người! Cái tài ở chữ “lạnh người” của câu kết… Cái cảnh đẹp của quê hương về đêm ở một bến sông trong một bầu trời đầy sương, trăng lưỡi liềm chênh chếch, có cành tre la đà lay động cời gió kia… Đẹp là thế mà nay đất nước đang bị giặc chiếm mất rồi…

Hai bài cách nhau 1.300 năm… ở hai xứ Bắc – Nam cách nhau vạn dặm… vậy mà hơi thở như quyện lấy nhau, tứ thơ gắn lấy nhau… cái tình cũng giống nhau ở nỗi buồn “mênh mang vạn cổ sầu”… nhưng nỗi buồn của cụ Đoan buồn hơn vì bên cạnh cái buồn còn có cái đau…

Đau! – Nỗi đau của người mất nước!

Theo tôi, có lẽ đây là một tác phẩm hay nhất của đầu thế kỷ XX.

TRIỆU TRIỆU

(*) Rút trong sách sỹ phu yêu nước Ngô Quang Đoan – Nxb Văn học – 2013 và Tổng tập văn học VN quyển 18 và 19.

Bài Viết Tương Tự

Giữ gìn bản sắc “Cội nguồn” trong dòng chảy hội nhập
Slider

Giữ gìn bản sắc “Cội nguồn” trong dòng chảy hội nhập

          Trong hành trình phát triển của mỗi dân tộc, cội nguồn luôn giữ một vị...

Chương trình tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa Du lịch Đất Tổ năm 2026
Infographic

Chương trình tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa Du lịch Đất Tổ năm 2026

Chương trình tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần Văn hóa, Du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026    ...

Tọa đàm “Nâng cao chất lượng sáng tác mỹ thuật trong kỷ nguyên mới”
Slider

Tọa đàm “Nâng cao chất lượng sáng tác mỹ thuật trong kỷ nguyên mới”

     Sáng 21-3-2026, Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Phú Thọ và Chi hội Hội Mỹ thuật VN tỉnh Phú...

Mùa đông và những góc nhìn của hoạ sĩ

Mùa đông và những góc nhìn của hoạ sĩ

Nhà sưu tập Nguyễn Mạnh Phúc – Cả đời đau đáu với quê hương

Nhà sưu tập Nguyễn Mạnh Phúc – Cả đời đau đáu với quê hương

Next Post
Khi “hồn xưa” của bản sắc văn hóa vùng cao bị “lưu lạc”

Khi “hồn xưa” của bản sắc văn hóa vùng cao bị “lưu lạc”

Sự hồi sinh nhân tính của Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao) và Mị (vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)

“Hoa trong mắt bão” một tiểu thuyết với những nhân vật đầy số phận và thế sự

Logo Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Phú Thọ

VNDT - Mỗi một chi tiết là một Nghệ Thuật

Thông Tin Liên Hệ


  • Địa chỉ: Số 160 - Đường Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - Thành Phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
  • Điện thoại: 0210.3847.337
  • Email: vanhocnghethuatphutho@gmail.com
  • Giấy phép xuất bản số: 17/GP-TTĐT ngày 07/11/2014 – Sở Thông tin và Truyền thông Phú Thọ
  • Chịu trách nhiệm chính: Cao Hồng Phương - Chủ tịch Hội Liên Hiệp VHNT Phú Thọ

Liên Hệ Quảng Cáo


  • Liên Hệ Quảng Cáo: Thông tin liên hệ gửi đến Email Hội Liên Hiệp VHNT Phú Thọ

Vị Trí Nghệ Thuật

© 2003 VNDT - Bản Quyền thuộc về Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Phú Thọ.

No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tác giả
    • Mỹ thuật
    • Thơ
    • Văn Học
    • Nhiếp ảnh
    • Âm nhạc
    • Múa
    • Sân khấu
    • Nghiên cứu Phê bình
    • VHNT các Dân tộc thiểu số
  • Thông báo
  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ

© 2023 VHNTDT - Website thuộc quyền sở hữu của VHNTDT.