Rời đồng bằng lên miền núi Hòa Bình nay là tỉnh Phú Thọ đã trên 40 mươi năm, nhưng không biền biệt mà tôi thường có mặt tại quê nhà, bởi Hà Đông – Hòa Bình chẳng bao xa. Hơn nữa, chỉ tôi rồi gia đình nhỏ của mình đang định cư tại Tp. Hòa Bình, còn người thân, họ mạc đều ở quê. Chính việc thường xuyên đi – về nên tôi chứng kiến sự mất dần cho đến sự biến mất của hệ thống ao làng.
Trước đây, từ đầu làng, giữa làng, trong làng đều rất nhiều ao. Cạnh đình, trước đình có ao Đình, cạnh chùa có ao Chùa, cạnh chợ có ao Chợ, trên xóm Đạo có ao xóm Đạo và dọc đường từ quốc lộ 21B về làng tôi liên tục có các dãy ao. Sau này tôi mới nghĩ về xuất xứ của những cái ao làng tôi.
Với hình dung xa xưa, vùng đồng bằng được bồi đắp còn trũng và lô nhô đất với nước. Con người chọn chỗ cao hơn để ở rồi quần tụ thành làng. Để có đường đi, họ phải đào đất vật lên thành đường; để có đình, chùa, chợ…họ lại phải đào đất đắp lên làm nền đình, nền chùa, nền chợ… những hố thùng ấy sau đó trở thành ao Đình, ao Chùa, ao Chợ… và trong vườn các gia đình cũng không ít ao, đó là dấu tích nơi đào đất đắp nền nhà và là ao riêng của họ. Những chiếc ao làng dù của cộng đồng hay của các gia đình đã chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân quê …
Trước hết, ao là nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt chủ yếu hàng ngày của con người. Mỗi ao thường có cầu ao, bến ao. Ao lớn, ao chung thì có thể cần nhiều cầu ao, bến ao. Có những bến ao được xếp bởi những phiến đá lớn, có bến ao được xây bằng gạch đỏ, gạch đá ong, lại có những bến ao chỉ dùng những đoạn tre già bắc làm cầu để ngồi rửa rau, vo gạo và giặt quần áo vv…
Khi dân còn thưa, làng xóm ít người, các ao thông nhau nên nước ao còn rất sạch. Mùa hè, người lớn đi làm đồng tan tầm, trẻ con tan học, về đến nhà là có thể ra bến ao thả mình xuống tắm gội rồi mới về ăn cơm. Quá nóng nực, đàn ông có thể ra ao bì bõm vài lần trong ngày, còn đàn bà đợi đêm xuống mới ra ao tắm. Vừa phục vụ trực tiếp con người, ao còn cung cấp nước tưới cho cây cối, rau củ trong vườn. Người lớn thì dùng thùng gánh, trẻ em thì dùng bình ô roa xách nước lên mà tưới. Chỉ nước ăn, uống mới gánh ở giếng làng về hoặc chứa ở những bể đựng nước mưa. Nhưng không phải nhà nào cũng có bể, bể to. Do đó nước ao vẫn là nguồn nước chính.
Bên cạnh việc cung cấp nước, ao còn là nơi thả bèo làm thức ăn của lợn. Trên mặt các ao là những chuồng bèo. Đó là những ô được giới hạn bằng những cây tre, nứa làm khung, bên trong thả bèo. Trong khung ấy, bèo cứ nở ra, dày lên và con người lấy bèo về băm rồi hòa cám cho lợn ăn. Lợn nuôi chỉ bằng bèo và cám nên hàng năm mới được dăm chục cân, nhưng thịt thì rất thơm, ngon. Bèo lại có các loại, bèo tây cao to (chắc có nguồn gốc từ phương Tây), bèo cái nhỏ và chỉ cao hơn mặt nước không quá mười phân. Rễ bèo hút thức ăn từ nước nên làm cho nước đã sạch lại trong hơn. Đúng là nhất cử lưỡng tiện. Việc ngăn các chuồng bèo còn để đảm bảo mặt nước còn khoảng thoáng trực tiếp hấp thụ ánh mặt trời và cá tôm hấp thụ ôxy dễ dàng. Tôi còn nhớ những khi trời mưa bão, gió lớn làm vỡ những chuồng bèo, người lớn lại phải gom bèo và buộc lại chuồng bèo, nếu không bèo sẽ bung ra khắp mặt ao, thậm chí kéo vào chật cả bến ao, cầu ao gây bất tiện cho việc tắm giặt và lấy nước sinh hoạt của con người.
Tôi có một kỷ niệm sâu sắc đối với ao, với việc chắn chuồng bèo. Mùa thu năm 1964, ông nội tôi đang sửa chuồng bèo dưới ao, ao nhà tôi sâu một tầm người với. Tôi và chị gái cả tên Đà cùng ra bến ao chơi gánh nước. Chị em tôi lấy sợi dây mảnh buộc vào 2 lọ thuốc penicillin đã dùng làm thùng gánh nước tới rau. Chị lúi húi trên bờ còn tôi xuống bến múc nước. Ao nhà tôi bến gạch nhiều rêu nên tôi trượt chân ngã xuống mà không ai biết. Có lẽ do linh tính, ông tôi gọi với lên hỏi chị Đà xem tôi đang ở đâu?. Thấy chị tôi ngơ ngác, ông biết tôi ngã xuống ao vì hai cái lọ penicillin còn vương trên bậc gạch. Thế là ông tôi vội lặn ngụp mò tôi ngay và sau một hồi thì ông xốc tôi lên bờ. Lúc này người tôi đã tím tái, tim ngừng đập. Cứ thế ông vắt tôi ra sau lưng, dốc ngược tôi xuống và chạy một mạch ra sân đình rồi lại chạy về. Nước trong bụng tôi ồng ộc chảy ra và tôi dần tỉnh lại. Ông lại lấy tro bếp đắp vào người tôi chống lạnh, cho đến lúc tôi tỉnh hẳn. Năm ấy tôi vừa 5 tuổi.
Bên cạnh việc thả bèo để nuôi lợn, mặt ao còn là nơi nuôi những bè rau muống, ra rút để người ăn. Bè rau mống dày, ngọn vươn cao non mơn mởn. Mỗi khi rau tốt, người ta dùng thuyền thúng bơi ra hái rau. Rau muống thả bè ngọn to, tuy không đậm bằng rau muống trồng trên cạn, nhưng tiện là không phải làm cỏ và tưới bón thường xuyên. Còn rau rút thì hẳn là độc quyền của các ao, vì loại rau này không trồng trên cạn được. Mùa hè, rau rút nấu canh cua thì vừa ngọt vừa có vị hơi chua và rất mát. Chuồng bèo, bè rau muống, rau rút còn là nơi cá hóng bên dưới, ếch trú bên trên và những chú chuồn chuồn ớt đậu nơi đầu cọc buộc rau hay ngọn lá bèo tây mà cong đuôi mơ màng say ngủ. Dưới đáy ao những bè xoan, tre ngâm lại là nơi trú ẩn lý tưởng của bọn cá trê phàm ăn. Một bức tranh thủy mặc, một thế giới cộng sinh vừa sôi động vừa êm ả cứ thế diễn ra trong những ao làng.
Thời trước, ao làng tôi không mấy nhà thả cá, bởi cá tự nhiên rất nhiều. Thường ngày người ta có thể kéo vó, thả lờ hoặc câu lấy cá dùng. Chỉ mùa tết mới tát ao. Tát ao lại cả một câu chuyện dài và rất thú vị, tôi sẽ kể ở các phần sau.
Hàng năm, hội làng Văn Nội quê tôi tổ chức vào các ngày 10, 11, 12 tháng Giêng. Trong nhiều sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian thì trò chơi đi thuyền thúng đốt pháo gọi là đốt pháo cần là hấp dẫn nhất. Chuẩn bị ngày hội, ao đình được dọn bèo cho quang, giành lấy mặt nước rộng. Một dây thừng dài được căng từ bờ này sang bờ kia và cao khoảng tầm tay với của người tính từ mặt nước. Người tham gia trò chơi tay cầm ba nén (chỉ ba nén) hương đang cháy chụm lại và làm thao tác châm những quả pháo treo trên dây đang quay ngòi xuống phía dưới, với tư thế vô cùng chênh chao. Trò chơi đốt pháo cần có hai dạng. Có thể chỉ một người vừa điều khiển thuyền vừa với tay lên châm hương vào ngòi pháo. Có thể hai người, một người điều khiển thuyền, một người châm đốt pháo. Những người tham gia đốt pháo cần thường mặc áo gụ, đầu thắt khăn xanh, bụng thắt khăn đỏ, họ lảo đảo lấy thế thăng bằng trên thuyền giữa ao trong tiếng trống ngũ liên, tiếng reo hò vang dậy của dân làng quây kín bốn phía bờ ao. Mỗi khi có tiếng pháo nổ thì tiếng reo hò, tiếng gõ thùng, gõ chậu lại vang lên át cả tiếng trống lễ trong đình.
Cùng với trò chơi đốt pháo cần kể trên còn có trò chơi bắt vịt. Ao rộng thì dành một khoảng quây lưới cho phù hợp. Ao nhỏ hơn thì không phải quây lưới mà dùng cả mặt ao. Cũng giống như đốt pháo cần, người tham gia thường là thanh niên, trung niên mặc áo nâu, đầu và lưng thắt khăn khác mầu. Vài con vịt cỏ (loại vịt bản địa nhỏ, chắc và nhanh) được thả xuống nước. Mấy thanh niên ào xuống vây bắt vịt. Vịt vừa đập cánh bơi, vừa bay, vừa chạy nháo nhác giữa mặt nước sôi động. Là giống bơi lặn giỏi, nhiều khi mấy người cùng lao vào vồ con vịt, người xem nghĩ phen này thì vịt có mà chạy đằng trời, nào ngờ người bắt được tay người, còn con vịt lại đã ngay sau lưng người. Tiếng người hò hét trên bờ vang lên thích thú. Nếu phần thưởng của trò chơi đốt pháo cần là bộ ấm chén, cái chậu nhôm thì phần thưởng của trò chơi bắt vịt chính là những con vịt mà người chơi bắt được.
Con người sinh sôi, nhu cầu đất ở, đất sản xuất đòi hỏi cao, nhất là từ khi đô thị hóa, ao làng mất đi, thay vào đó là những dãy nhà bê tông chật cứng nên những trò chơi dân gian cũng mai một. Hệ thống ao, trong đó có ao Đình, nơi xưa người dân quê tôi hể hả cười, tưng bừng reo hò mỗi khi xem đốt pháo cần hay bắt vịt nay còn đâu! Những ngày hội làng, thế chỗ các trò chơi dân gian là những trò cua cá, úp bát, ném vòng…mang tính cờ bạc sát phạt nhau. Nghĩ mà buồn, mà lo, mà thương cho sự thiệt thòi của trẻ con thời nay khi chúng không còn được hả hê cười, tưng bừng reo hò giữa trời xuân, ngày xuân trên quê hương trong mỗi độ tết đến xuân về như cụ, như ông chúng khi xưa!
Lê Va








