
Nói ra cũng có thể có người chưa tin, trong đời công tác của mình tôi có tới 5 lần chuyển công tác. Mỗi một lần chuyển công tác là mỗi lần phải tiếp cận làm quen với công việc mới, song tôi đều hoàn thành tốt công việc được giao. Lần chuyển công tác cuối cùng về làm Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT tuy thời gian làm việc không dài, song lại là những năm tháng ấn tượng nhất đối với tôi.
Cuối năm 2013, đang trong cương vị Phó Tổng Biên tập Báo Đảng tỉnh, tôi cứ nghĩ mình an phận như vậy cho đến lúc về nghỉ chế độ thì đột nhiên một buổi chiều nhận một cú điện thoại của Trưởng Ban tổ chức Tỉnh Uỷ bảo chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.
Sau cú điện thoại đó tôi thẫn thờ chẳng biết nên làm gì không làm gì! Bởi ở cái tuổi chỉ còn một nhiệm kì nữa là về hưu nên cũng là tâm lí chung như bất cứ ai, ngại chuyển đổi vị trí công tác lắm.
Khi còn ở cơ quan báo Đảng tôi ít quan tâm đến công việc ở Hội văn nghệ, đơn giản chỉ là không phải việc của mình. Tôi cũng có biết đến một số VNS nhưng không chơi thân. Tôi cũng được nghe các giai thoại hay có, dở có về người nọ người kia cả những phức tạp trong giới văn nghệ sĩ. Nhà ở của tôi còn chung ngõ, chung đường với hai ông có tên tuổi trong làng văn nghệ là nhạc sĩ Cao Khắc Thùy – Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội và nhà viết kịch, nhà thơ Trịnh Hoài Đức – Nguyên TBT Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ. Cả hai ông tuy là hàng xóm song cũng năm thì mười họa mới sang nhà nhau chơi. Ông Cao Khắc Thùy thì tuổi cha chú, có thể tranh thủ ý kiến về việc Hội nhưng giờ ông lại ở xa. Còn ông Trịnh Hoài Đức lúc này cũng không còn khỏe để mà nghe những chuyện công việc của Hội…
Cái gì đến thì rồi sẽ đến! Tôi chuyển công tác đến Hội Liên hiệp VHNT đúng ngày 19/12/2013 cũng là ngày kỉ niệm toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Công việc ở Hội nhàn nhã hơn làm báo rất nhiều, một năm có mấy đầu việc thì đã được Nhà nước cấp kinh phí. Nếu cứ thế mà làm thì bảo là thiếu năng động còn nghĩ việc ra để làm thì phải cần đến tiền. Muốn có tiền thì phải đi xin mà xin thì cần phải biết cách, nghệ thuật xin. Cuốn vào cái cơ chế xin – cho có khi lại hỏng người. Lắm khi xin được 10 thì rơi rụng mất nửa ai biết đấy vào đâu, nguyên cái việc phải hợp thức hóa đã chết rồi. Có phải vì biết quá rõ điều này nên khi vừa chân ướt chân ráo nhận nhiệm vụ đồng chí Bí Thư Tỉnh Uỷ căn dặn tôi: Ông cứ duy trì làm cho tốt những công việc của Hội như trước đã làm (Ý nói thời họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng làm Chủ tịch Hội), không cần phải làm thêm nhiều việc. Nhưng làm gì thì cũng làm cho chắc.
Tôi rất cám ơn và ghi nhớ những lời dặn dò này của người đứng đầu cấp ủy. Thế nhưng không riêng gì Bí thư Tỉnh ủy động viên mà ngay lúc tôi sang Hội khi về Hà Nội ra mắt các cơ quan liên quan ở Trung ương, nhà báo Hồng Vinh nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng lí luận phê bình văn học Nghệ thuật Trung ương động viên: làm quản lí VNS, phức tạp thì có phức tạp nhưng mình có bản lĩnh của người làm báo thì đâu có ngại. Còn Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam – Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng vỗ vai nói rất văn vẻ hình tượng: Văn nghệ sĩ có lúc nóng lúc lạnh, mình làm người quản lí họ thì mình phải biết chiều họ. Điều này khiến tôi lại nhớ đến lời Phó Chủ tịch tỉnh phụ trách khối VHXH nói với tôi: Việc quản lí Hội khác với việc quản lí ở cơ quan báo Đảng. Ông đừng quá cứng nhắc mà hỏng việc. Về sau tôi lại được nghe câu này từ một hội viên cao tuổi có nhiều đóng góp xây dựng Hội nên rất có uy tín: ông làm tốt đấy nhưng hơi cứng nhắc quá, văn nghệ nhiều khi phải mềm mỏng. Thì ra, mềm mỏng, ngọt ngào là phương châm để tiếp cận và quản lí VNS tốt nhất. Đây đúng là những lời vàng, thước ngọc thực sự.
Tôi cứ như thế lắng nghe và tiếp cận công việc của người “thủ lĩnh Hội”. Một mặt coi trọng kế thừa và phát huy các hoạt động chuyên ngành, củng cố và tăng cường công tác đối ngoại, công tác phát triển hội viên, công tác đảng, đoàn thể, đưa hoạt động của Hội vào nền nếp theo cách của mình.
Hội Đền Hùng năm 2014, Hội tham gia trưng bày ảnh nghệ thuật tại Đền Hùng thu hút đông đảo du khách tới xem. Tôi là người rất đam mê ảnh nên sau cuộc trưng bày ảnh thành công khiến trong tôi bật ra ý tưởng về cuộc thi ảnh quê hương con người Phú Thọ và tên gọi này đã trở thành chủ đề sáng tác, thu được nhiều kết quả tốt đẹp trong nhiều năm sau này. Cũng trong năm 2014 tôi chủ trương tổ chức cho đoàn VNS gồm các đồng chí trong BCH Hội đi trại sáng tác Đà Lạt. Nhân chuyến đi này đoàn đi giao lưu với một số hội bạn như Lâm Đồng, Đắc Lắc. Chuyến đi thành công tốt đẹp. Đối với sáng tác văn học, năm 2014 thực sự là năm được mùa xuất bản với 29 đầu sách. Về văn xuôi, cùng với các tên tuổi thành danh như nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn với 2 tập “Tuyển tập” và truyện “Sín Lủ” viết chung với Cầm Sơn, các hội viên khác tiếp tục khẳng định năng lực của mình bằng các tác phẩm có chất lượng cao thu hút được sự quan tâm đông đảo của độc giả như: tiểu thuyết “Trầm tích Sông Thao” của Triệu Hồng; “Phía sau trận chiến” của Vũ Quốc Khánh, tiểu thuyết “Xuyên qua cánh rừng” của Cầm Sơn; truyện ký “Khúc quân hành vang mãi vang xa” của Bùi Ngọc Quế, tập ký chân dung “Miền lưu dấu văn nhân” của Nguyễn Tham Thiện Kế, tập truyện “Chõe bò” của Xuân Thu, “Thời chưa xa” của Nguyễn Hùng Sơn, tập truyện “Gió thổi qua con dốc” của Xuân Quang. Tác giả Cầm Sơn được Nhà xuất bản Hội nhà văn tổ chức buổi giới thiệu sách với tiểu thuyết “Xuyên qua cánh rừng”. Hai nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn và Nguyễn Tham Thiện Kế còn có kịch bản phim TH “Ánh sáng trước mặt” gồm 35 tập đã được Đài THVN quay xong. Tập sách “Làm theo lời Bác – một đời trồng người” của Dương huy Thiện cũng đã tạo được ấn tượng tốt đối với các đại biểu và góp phần tổ chức thành công Hội thảo “Dương Huy Thiện – Một đời tìm ngọc, trồng người” gắn với các hoạt động kỷ niệm 124 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh. Về các sáng tác thơ, tập thơ “Biển gọi” của Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Phú Thọ đã được đến với các chiến sỹ Trường Sa qua đoàn công tác của tỉnh đúng dịp Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương trái phép tại vùng biển Việt Nam. Tập thơ đã được công chúng đón nhận và tạo được dư luận xã hội mạnh mẽ. Các sáng tác khác: tập thơ “Bên bếp lửa Trường Sa” của Nguyễn Hưng Hải, trường ca lịch sử “Tráng khúc Lô giang” của Điền Ngọc Phách, các tập thơ “Đường” của Thanh Bình, “Tiếng sóng biển” của Xuân Thu, “Bao la nhân ái Hồ Chí Minh” của Giang Châu, tập thơ “Bác giữa đời thường” của Phan Chúc, “Đêm đang dần về sáng” của Vũ Kim Liên, “Hồn Tổ quốc” của Phan Chúc, “Một thời hoa lửa” của Đoàn Hải Hưng, “Ta nhận về ta phẩm chất của Người” của Nguyễn Đình Xán, “Nắng khan” của Đàm Tuất, “Mảnh vườn thao thức” của Nguyễn Thế Yên…
Công việc quản lí điều hành ở Hội hàng năm tính theo đầu việc như dập khuôn, năm nào cũng như năm nào. Nếu cứ vậy mà làm và làm cho tốt như lời căn dặn của Bí Thư Tỉnh ủy thì cũng chẳng sao, nhưng tôi không quen ngồi không một chỗ vả lại cũng muốn làm được điều gì đó đóng góp cho Hội và VNS. Nhằm nâng cao chất lượng sáng tác, tuyên truyền về biển đảo, cổ súy phong trào xây dựng nông thôn mới, thực hiện phương châm hướng về cơ sở, tôi đề xuất tổ chức cho các văn nghệ sỹ đi thực tế sáng tác VHNT tại 9/13 huyện, thị, thành trong tỉnh. Mỗi đợt sáng tác thu được hàng trăm tác phẩm Văn, thơ, mỹ thuật, nhiếp ảnh, âm nhạc phục vụ nhiệm vụ chính trị và Đại hội Đảng các cấp, tập hợp xuất bản được 3 tập sách, góp phần tăng đáng kể số lượng xuất bản các tác phẩm VHNT trong giai đoạn đổi mới. Cũng trong giai đoạn này lãnh đạo 3 Hội Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai chúng tôi thống nhất tổ chức cuộc thi viết truyện ngắn đăng tạp chí văn nghệ 3 tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai do 3 Hội đăng cai tổ chức luân phiên. Cuộc thi này kéo dài gần một chục năm mới khép lại. Từ cuộc thi này thu được hàng chục đầu tác phẩm chất lượng đoạt giải thưởng. Nhiều cuộc thi sáng tác VHNT phục vụ nhiệm vụ chính trị với các chủ đề khác nhau như “Biển đảo Tổ quốc”, ‘Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “Xây dựng nông thôn mới”mang lại nhiều thành công. Những chuyến đi sáng tác hướng về cơ sở thực sự như luồng gió mới, tiếp thêm cho VNS cảm hứng mới. Từ các cuộc vận động sáng tác, một số VNS của Hội đã có nhiều tác phẩm chất lượng cao được kết nạp hội Trung ương.
“Cuộc vận động sáng tác quảng bá VHNT về chủ đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tiếp tục được phát động sâu rộng và nhận được sự quan tâm của giới VNS đất Tổ. Đã có hàng chục sáng tác thơ, nhạc, mỹ thuật về chủ đề này được gửi tham dự giải ở trung ương. Hai tập thơ “Dâng Bác một niềm thơ” và “Tiếng sóng biển” của Nguyễn Hưng Hải và Đỗ Xuân Thu được nhận sự hỗ trợ đặc cách kinh phí xuất bản phục vụ nhiệm vụ chính trị. Cuộc thi sáng tác thơ – Nhạc về biên giới hải đảo do Tạp Chí VNĐT và Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp tổ chức thành công ngoài sự mong đợi. Chỉ trong 5 tháng BTC cuộc thi đã nhận được hơn 400 tác phẩm của các tác giả trong và ngoài nước, hàng chục tác phẩm được trao giải. Trong đó đa phần là VNS và hội viên Phú Thọ.
Chủ đề về người chiến sỹ luôn là niềm cảm hứng sáng tác của VNS. Niềm cảm hứng này đã nối dài các sáng tác trở thành mạch nguồn vô tận về đề tài người chiến sỹ và cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân ta xuyên suốt nhiều thập kỷ. Nhiều tác phẩm của cuộc thi này và các sáng tác trước đó có tác động tích cực góp thêm những khúc tráng ca về bộ đội cụ Hồ, đất nước, dân tộc. Tập thơ “Biển gọi” của nhiều tác giả hội viên Chi Hội nhà văn Việt Nam tại Phú Thọ cùng với tập truyện ký “khúc Quân hành vang mãi, vang xa” của tác giả Bùi Ngọc Quế, những ấn phẩm văn học tiêu biểu được Hội Liên hiệp VHNT gửi tặng các chiến sỹ Trường Sa qua Đoàn công tác của tỉnh thăm huyện đảo Trường Sa và gửi tặng cán bộ chiến sỹ Đồn biên phòng Lũng Cú – Hà Giang, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Thọ…
Để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, bất cập trong xét trao giải thưởng cần phải đổi mới trong xét giải thưởng, làm chặt chẽ từ mỗi chuyên ngành, trên cơ sở những tiêu chí cụ thể áp dụng cho mỗi chuyên ngành đó. Tôi giao văn phòng chuẩn bị các văn bản của quy chế cũ rồi tổ chức họp BCH rà soát, cho ý kiến bổ xung hoàn chỉnh quy chế giải thưởng Hùng Vương, giải thưởng 5 năm và giải thưởng hàng năm. Có bộ Quy chế giải thưởng rồi, song làm sao để mức giải được phù hợp, nghĩa là lương tăng thì mức tiền giải tăng theo. Tôi đăng kí làm việc với đồng chí Phó Chủ tịch phục trách khối và trình bày ý kiến của mình. Đề xuất của tôi được đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh ủng hộ và nội dung này đã được đưa vào chương trình họp của UBND tỉnh. Tại cuộc họp các thành viên UBND tỉnh đã nhất trí với Đề án giải thưởng VHNT và ngay sau đó UBND tỉnh đã ra quyết định. Theo quyết định của UBND tỉnh, tỉnh đã bố trí kinh phí trao giải thưởng 5 năm (Tổng số 10 giải A, 15 giải B và 15 giải C/ lần) và giải thưởng Hùng Vương (5 giải/ 5 năm, kèm theo giải là Kỷ niệm chương Hùng Vương, phần thưởng cao quý nhất của tỉnh) cho các chuyên ngành VHNT. Điều quan trọng hơn cả là mức giải được UBND tỉnh đồng ý với đề xuất từ nay trở đi được điều chỉnh theo hệ số lương, hệ số lương tăng bao nhiêu thì mức giải tăng theo bấy nhiêu. (Từ năm 2015 giải Hùng Vương là 40 triệu đồng/giải). Với Giải thưởng hàng năm vẫn duy trì và UBND tỉnh giao cho chủ tịch Hội kí giải thưởng hàng năm thay như trước đây lãnh đạo tỉnh kí. Đây cũng là một điểm mới thể hiện sự tin tưởng đối với Hội. Đồng chí Phó Chủ tịch phụ trách khối nói với tôi: Thế là đề nghị của chủ tịch Hội đã được giải quyết, phấn khởi quá còn gì. Thế nhưng ông làm thế nào thì làm nhé, trao giải thưởng xong mà không có kiện cáo gì sang tỉnh là được.
Tỉnh Phú Thọ tự hào là đất cội nguồn, nơi phát tích của dân tộc là căn cứ địa của cách mạng trong những năm trước cách mạng tháng tám và cái nôi của văn nghệ kháng chiến trong kháng chiến chống thực dân Pháp. VNS luôn hăng hái thi đua yêu nước, đóng góp tích cực sáng tạo nhiều các tác phẩm văn học nghệ thuật. Số tác phẩm VHNT được giải thưởng ở các chuyên ngành khác nhau lên tới hàng trăm đầu sách với hàng vạn trang, hàng trăm tranh, ảnh, vở diễn…
Với mong muốn các tác phẩm VHNT được giải thưởng được tập hợp lưu trữ, quản lý hệ thống hóa một cách khoa học đúng ý nghĩa là hiện vật lịch sử, không ít tác phẩm bị thất lạc, hư hỏng tôi đã nghiên cứu xây dựng đề tài KHCN cấp tỉnh “Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý khai thác các tác phẩm đạt giải thưởng Văn học- Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ”. Đề tài đã được Hội đồng KHCN cấp tỉnh phê duyệt và triển khai thực hiện thu được thành công bước đầu, góp phần bảo tồn thành tựu sáng tạo của VNS Phú Thọ trong quá trình xây dựng và phát triển.
Công tác đối ngoại và hoạt động quảng bá luôn được coi trọng gắn với sáng tác. Đây là tiền đề cho hội nhập VHNT với khu vực và quốc tế mà những người lãnh đạo tiền nhiệm đã làm rất tốt. Kế tục và phát huy Hội đã duy trì và phát huy hoạt động trong nhóm hợp tác phát triển VHNT gồm 8 tỉnh thành (VN8) và nhóm các tỉnh thành vùng Kinh đô xưa và nay; tổ chức và đăng cai các cuộc Liên hoan, Triển lãm nghệ thuật ở tỉnh và quốc tế. Thông qua các hội thảo chuyên đề và giao lưu học hỏi kinh nghiệm, tổ chức các trại sáng tác chuyên ngành thu được hàng trăm tác phẩm có chất lượng cao, đáp ứng với nhu cầu của VNS. Năm 2014, lần đầu tiên đoàn họa sỹ Phú Thọ được tham gia Triển lãm Mỹ thuật Quốc tế tổ chức tại Seoul (Hàn Quốc). Các tác phẩm của họa sỹ Phú Thọ được bạn bè quốc tế đánh giá cao, mở ra hướng giao lưu, hội nhập, hợp tác quốc tế về hoạt động văn học, nghệ thuật, quảng bá hình ảnh Phú Thọ qua các tác phẩm hội họa tới bạn bè quốc tế. Năm 2019 ta được đón các bạn Hàn Quốc sang giao lưu đúng dịp giỗ Tổ Hùng Vương lễ hội Đền Hùng. Thông qua các hoạt động sáng tác, hoạt động đối ngoại, Văn nghệ sĩ Phú Thọ đã để lại trong lòng bạn bè VNS cả nước và quốc tế nhiều ấn tượng tốt đẹp. Hội Liên hiệp VHNT là địa chỉ thân quen để VNS cả nước tìm về đúng với cái nghĩa Phú Thọ là cái nôi của văn nghệ.
Những năm tháng làm “thủ lĩnh Văn Nghệ” đã khép lại đời công tác của tôi như thế đó. Đó là những năm tháng đẹp nhất trong đời công tác của mình.
Đ.Q.L








