Thứ Tư, 22 - 04 - 2026
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tác giả
    • Mỹ thuật
    • Thơ
    • Văn Học
    • Nhiếp ảnh
    • Âm nhạc
    • Múa
    • Sân khấu
    • Nghiên cứu Phê bình
    • VHNT các Dân tộc thiểu số
  • Thông báo
  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ
No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tác giả
    • Mỹ thuật
    • Thơ
    • Văn Học
    • Nhiếp ảnh
    • Âm nhạc
    • Múa
    • Sân khấu
    • Nghiên cứu Phê bình
    • VHNT các Dân tộc thiểu số
  • Thông báo
  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ
No Result
View All Result
Hội Văn Học Nghệ Thuật
No Result
View All Result

Trang Chủ » Những người lính chiến (Phần 5)

Những người lính chiến (Phần 5)

Vũ Quốc Khánh

Thứ Năm, 1 - 05 - 2025
in Slider, Tin Tiêu Điểm, Thể Loại Chung, Văn
A A
14
VIEWS
Chia sẻ FacebookChia sẻ Twitter

Những người lính chiến

5

Tiểu đoàn nơi Thanh Lương và Thanh Nguyễn trở về bây giờ mang phiên hiệu không như đơn vị cũ của các anh nữa. Các Đại đội đang chờ bổ sung tân binh mới. Địa bàn hoạt động của Sư đoàn cũng thay đổi. Các đơn vị được lệnh rút khỏi tuyến chốt giữ dọc đường 19, bàn giao cho Sư đoàn 968 vừa được điều từ Nam Lào về, để bí mật hành quân vào địa điểm mới. Trong lúc rỗi rãi chờ tổ chức sắp xếp, hai anh em lại bần thần nhớ đến Trung đội trưởng Hà Thanh Hạnh. Không biết giờ này anh đang làm gì nhỉ?

Bỗng nhiên Nguyễn hỏi Lương:

– Này, cậu có nhớ cô Y Sinh ngày đơn vị mình đánh chiếm điểm cao 601 không?

– Y Sinh nào nhỉ?

– Cô Y Sinh du kích xinh xắn, da trắng, tóc đen nhánh, có hai lúm đồng tiền ở hai bên má, người dân tộc Xê Đăng nhưng không cà răng căng tai, đến hầm mình chơi về muộn, bị anh Hạnh nhắc nhở cứ tấm tức khóc ý.

– À, tớ nhớ ra rồi. Cô Y Sinh du kích Đăk La sang phối thuộc với đơn vị mình chứ gì? Thiên tình sử của cô ấy với cậu thật là lãng mạn, tớ quên làm sao được. Thế giờ cô ấy làm gì, ở đâu?

– Cô ấy “bắt” chồng rồi. Nghe nói chồng là sĩ quan ngụy nhà giầu có lắm.

– Sao cậu biết?

– Thì hôm nọ tớ gặp A Phai, bộ đội địa phương ở tỉnh đội này, người làng của cô ấy. A Phai cho biết thế.

– Thế à? Sĩ quan ngụy à?

– Ừ, sĩ quan ngụy nhưng là sĩ quan văn phòng. Thấy bảo hiền lắm.

– Thôi, biết làm sao được. Gái lớn thì phải gả chồng. Cũng mừng cho cô ấy, xinh thế cơ mà. Nhưng làm sao cô ấy không phải theo tập tục “cà răng căng tai” như những cô gái Xê Đăng khác nhỉ?

– Tớ cũng chịu. Đấy cũng là câu hỏi còn bỏ ngỏ của nhiều người, chứ không phải chỉ riêng cậu và tớ đâu?

Rồi cả Lương và Nguyễn lại nhớ về trận đánh điểm cao 601 năm ấy.

Đấy là một cao điểm nằm sát đường 14, khống chế phía Bắc Thị xã Kon Tum và toàn bộ phía Nam Đắk-Tô, Tân Cảnh. Vì thế nơi đây đã được Mỹ ngụy xây dựng thành một căn cứ vững chắc, có công sự, hàng rào dây thép gai và hệ thống mìn các loại dày đặc. Đồng thời 601 còn liên hoàn với những trận địa pháo binh và xe tăng được bố trí trên hai mỏm đồi hình yên ngựa xung quanh. Ở phía Bắc chúng xây dựng đồn Bảo an Hà Mòn, bố trí tiểu đoàn Bảo an số 23, tăng cường 1 chi đội xe thiết giáp. Ở phía Đông chúng xây dựng Sở chỉ huy Lữ đoàn dù số 3, có trận địa pháo lớn, xe tăng, xe bọc thép chốt giữ. Ngoài ra chúng còn bố trí các trận địa pháo ở Kon Trang Klả, Bãi Ủi, Bắc Thị xã Kon Tum sẵn sàng chi viện cho 601 khi cần thiết.

Với thế trận phòng thủ kiên cường như vậy, địch cho rằng lực lượng Giải phóng có đến ba đầu sáu tay cũng không làm gì được chúng.

Nhưng tiền nhân đã dạy “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”. Sau khi tham gia cùng các đơn vị bạn đánh tan ý đồ lấn chiếm vùng giải phóng ở Làng Dịt, Đồi 30, Lệ Ngọc, Làng Siêu của địch, Trung đoàn 28 được cấp trên giao cho nhiệm vụ chặt đứt mắt xích quan trọng 601 để kiểm soát đường 14, làm bàn đạp tấn công giải phóng Đăk-Tô Tân Cảnh, uy hiếp Thị xã Kon-Tum, mở rộng vùng giải phóng phía Bắc Tây Nguyên.  

Tiểu đoàn của Thanh Hạnh được phân công phối thuộc từ hướng Bắc, theo đường 14 đột kích lên điểm cao 601, dưới sự chi viện hỏa lực của cấp trên. Mọi công việc chuẩn bị cho trận đánh được thực hiện hết sức khẩn trương. Các khẩu pháo 105 ly, cối 120 ly, DKZ 106,7 ly được các pháo thủ tháo rời, để các chiến sỹ bộ binh và du kích địa phương khiêng vác đưa lên các điểm cao cách 601 chỉ khoảng 900 mét. Từ đây chúng ta có thể trực tiếp bắn thẳng vào căn cứ địch mà không sợ sai số về phần tử bắn.

Y Sinh là nữ du kích người Xê Đăng buôn Đắk La. Cô được phân công về tăng cường cho tổ của Lương và Nguyễn để khênh vác lương thực, đạn dược và các bộ phận pháo đã tháo rời lên trận địa cho kịp giờ G nổ súng. Đã nặng, lại toàn là sắt thép, nên mỗi lần nhìn Y Sinh chân yếu tay mềm bặm môi vào khênh vác là một lần cả Lương và Nguyễn thấy áy náy. Nhưng biết làm sao được. Thôi thì đành cố vậy.

Thế nhưng, sau buổi đầu tiên, Nguyễn đã gặp và bàn với các tổ khác nhường phần gùi lương thực, đạn dược cho Y Sinh và các du kích nữ, còn khiêng vác pháo nặng hơn dành cho cánh con trai. Hôm nào cùng khênh vác các bộ phận pháo là Nguyễn lại tìm cách giành phần nặng hơn về phía mình, nhường phần nhẹ hơn cho Y Sinh.

Y Sinh hiểu điều đó nên cảm động lắm. Đến bữa ăn Y Sinh cũng bằng mọi cách nhường phần nhiều hơn cho Nguyễn. Nguyễn cũng vậy, cố nhường phần ngon hơn cho Y Sinh. Tình đồng đội chân thành khiến Y Sinh đem lòng thầm yêu trộm nhớ Thanh Nguyễn lúc nào không biết.

Một lần khiêng nặng, giẫm phải mảnh sành nên chân Nguyễn tóe máu. Anh cố nghiến răng bước đi. Y Sinh nhìn thấy, thương bạn, khóc không thành tiếng. Đến chỗ dừng nghỉ, cô hấp tấp xoa nặn, xé cả vạt áo đang mặc ra băng vết thương cho Nguyễn. Đồng đội ở các tổ khác buông lời trêu ghẹo, khiến anh xấu hổ mặt đỏ tía tai. Thấy thế Y Sinh bảo:

– Anh không phải xấu hổ. Mình có làm việc gì sai đâu? Chả lẽ đồng đội lo cho nhau mà phải ngượng à?

Tối hôm đó Y Sinh đun nước muối đem sang hầm rửa vết thương cho Nguyễn. Khi vết thương được băng xong, Nguyễn run run giục Y Sinh về ngủ lấy sức mai còn khiêng vác pháo. Y Sinh không những không về, mà còn lựa lúc vắng vẻ, ôm ghì lấy Nguyễn. Cô áp bộ ngực căng đầy vào ngực anh, lại đặt lên môi anh một nụ hôn đắm đuối. Nụ hôn ấy trước còn rụt rè e lệ, sau trở nên cuồng dại và cháy bỏng. Bao lâu rồi không được tận hưởng những giây phút thần tiên đó, Nguyễn cũng đáp lại đầy mãnh liệt. Nhưng, sau những đồng tình ban đầu, Nguyễn bắt đầu thấy sợ hãi. Ánh mắt Vân Thảo vợ anh hiện lên, nhìn anh như trách cứ. Anh thấy mình như có lỗi. Lập tức Nguyễn đẩy Y Sinh ra, luống cuống:

– Y Sinh ơi, thôi nhé, anh sợ lắm.

Y Sinh không những không chịu, lại nói cứng:

– Việc gì phải sợ. Em yêu anh mà. Con gái Xê Đăng chúng em không sợ đâu. Nếu cần em sẽ báo cáo chỉ huy cho em “bắt” anh làm chồng thôi, ai cấm được em?

Nguyễn lúng túng, đành phải nói thật:

– Nhưng mà vẫn không được em ạ. Anh đã có vợ ở nhà rồi.

– Có vợ rồi à? Thế cũng không sao. Buôn làng em không cấm em có con đâu. Em cứ yêu anh, rồi đẻ con nữa. Con em em nuôi, Sau này nó lớn lên còn có người tham gia đánh giặc nữa chứ?

Nguyễn cuống cuồng, bịt lấy miệng Y Sinh:

– Nhưng cũng không được. Anh là bộ đội. Anh mà yêu em là bị kỷ luật nặng đấy. Chẳng lẽ em lại muốn anh bị kỷ luật à?

Nghe Nguyễn nói, Y Sinh ôm mặt khóc tức tưởi. Khóc mãi đến khuya Y Sinh mới lầm lũi về hầm.

Rồi việc khiêng vác, lắp đặt pháo vào trận địa cũng xong. Chuẩn bị đến giờ nổ súng. Y Sinh phải chia tay Nguyễn để về Đắk La. Còn tiếng súng ở phía trước cũng kéo Nguyễn về cuộc chiến đấu mới. Chỉ khổ là rất nhiều ngày sau đó, những lúc rảnh rỗi Nguyễn vẫn nhớ về tình cảm của Y Sinh giành cho mình.

Lại nói về cuộc chiến đấu giành giật cao điểm 601.

Trước giờ nổ súng, đơn vị của Lương và Nguyễn được lệnh mang vác đầy đủ các trang thiết bị vượt đường 14 từ phía Bắc sang, bí mật ém quân theo dọc sườn núi, cách cửa mở 601 khoảng 300 mét.

Đúng giờ G, pháo ta bắt đầu trút lửa đạn xuống đầu kẻ địch. Căn cứ 601 chìm trong những tiếng nổ chát chúa. Khói và bụi mù mịt. Lửa cháy rùng rùng. Tiếng kêu la của địch thảm thiết vang lên không ngớt. Lợi dụng lúc pháo bắn, các chiến sỹ ta nhanh chóng vượt qua các bụi cây lúp xúp, vận động lên áp sát chân cao điểm. Đại đội trưởng Hà Thanh Hạnh giao nhiệm vụ cho Hà Thanh Nguyễn điểm hỏa hai giá mìn định hướng phá tung hàng rào chính. Hà Thanh Lương cũng được lệnh dùng bộc phá ống, phá các hàng rào còn lại. Các trái mìn địch gài xung quanh hàng rào nổ như ngô rang. Dây thép gai bung ra từng mảng. Toàn Đại đội được lệnh xung phong lên cửa mở. Hiềm nỗi sườn đồi rất khó đi, lại phải mang vác bộc phá, súng ống và các trang bị khác nặng, cho nên đến cửa mở lính tráng đã mệt phờ, có đồng chí còn ngã quỵ. Đại đội trưởng Hà Thanh Hạnh hét lớn, át cả tiếng súng nổ rần rần ở bốn phía. “Cố lên không địch phản kích thì gay to. Các cậu đưa bộc phá đây cho tớ”.

Nói rồi anh ôm bộc phá lao lên, Nguyễn cũng bám theo. Hai anh em lần lượt điểm hỏa 6 quả bộc phá, phá nốt 4 hàng rào dây thép gai ở cửa mở. Theo tiếng hô xung phong của Đại đội trưởng Thanh Hạnh, cả đại đội ùa lên chiếm lô cốt đầu cầu. Bọn địch ở đây hoang mang, sợ đến mất mật trước tiếng bộc phá, tiếng mìn nổ. Chúng cuống cuồng dạt xuống các công sự gần đấy tử thủ.

Lúc này ta đã áp sát địch, nên pháo lớn của ta phải dừng bắn. Các mũi tiến công của các đại đội khác thừa cơ đồng loạt xông lên, nã B40 vào các trận địa pháo, trận địa xe tăng, xe bọc thép của địch. Những khẩu pháo toác ra. Những chiếc xe tăng M48 bị B40 thiêu cháy, vàng ệch như cua nướng dở. Những chiếc xe bọc thép M113 dính đạn pháo nằm tênh hênh bên lô cốt. Địch lợi dụng công sự vững chắc chống trả quyết liệt. Các chiến sỹ bộ binh ta tranh giành với lính địch từng góc lô cốt, từng mét giao thông hào.

Biết không thể chống cự được trước sức tiến công của bộ đội ta, địch phải rút xuống hầm ngầm cố thủ. Chúng gọi máy bay, pháo lớn bắn trùm lên trận địa. Khắp nơi khói lửa mịt mù. Tiếng bộ đội ta gọi nhau, xen lẫn tiếng kêu rên vì bị thương nổi lên tứ phía. Lực lượng tải thương làm việc cật lực, mà vẫn không chuyển hết thương binh về tuyến sau.

Tình thế không thể kéo dài. Để đè bẹp ý chí phản kháng của chúng, Tiểu đoàn trưởng đành phải ra lệnh cho Đại đội trưởng Hà Thanh Hạnh điểm hỏa hai quả bộc phá ống loại 6kg, rồi tống thẳng vào hầm chỉ huy của địch. Hai tiếng nổ khủng khiếp vang lên. Đất dưới chân như chao đảo. Những tên địch ngoan cố dưới hầm buộc phải đền tội. Những tên đang cố thủ ở các ngách hầm khác sợ hãi, lóp ngóp chui lên, lũ lượt ra hàng.

 Chính lúc đó Đại đội trưởng Thanh Hạnh cũng kiệt sức, vật ra, ngất xỉu. Mọi người xô đến, xốc anh lên cáng khiêng về tuyến sau.

Thế là sau 2 giờ chiến đấu kiên cường đánh địch trong công sự vững chắc, ta đã xóa sổ căn cứ 601 của địch, diệt gọn 2 chi đội xe tăng thiết giáp, phá hủy 2 khẩu cối 106,7 mm, diệt gọn một trung đội bảo an, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội dù, hàng trăm tên địch bị đền tội. Ta đã cắt đứt hoàn toàn đường 14, đúng với mục tiêu cấp trên đề ra.

Sau trận ấy Hà Thanh Lương được chọn đi học lớp đào tạo Tiểu đội trưởng ở Trung đoàn. Lương đã vào chiến trường được hai năm. Nếu để hoàn thành nhiệm vụ của một người lính chắc Lương không có điều gì phải lo lắng. Nhưng để hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy nhiều người lính thì Lương sẽ còn phải học hỏi thêm nữa. Bài học mà Đại đội trưởng Hà Thanh Hạnh đã truyền lại cho anh từ những ngày đầu vào mặt trận như trận phối thuộc đánh sân bay Cù Hanh, hay trận đánh địch ở PLay Ode đều mãi là bài học bổ ích cho Lương. Bỗng nhiên Lương nhớ buổi đi cùng anh Hạnh vào trinh sát ấp Chư Nghé chuẩn bị cho trận đánh đồn này.

Đấy là một buổi chiều, anh Hạnh bảo Lương mang súng đạn gọn nhẹ, còn  tăng, võng cho vào túi mìn Claymo để ở nhà, rồi đi theo anh. Từ sườn núi anh đã chỉ cho Lương thấy đồn Chư Nghé nằm trên một đồi cao. Còn ấp Chư Nghé nằm cách đồn gần 200m. Trời tối hẳn anh Hạnh kéo tay Lương:

 – Ở đây dân ấp ngày thì của địch, còn tối là của mình. Bây giờ hết thời gian địch đi tuần rồi, anh em mình vào ấp thôi!

Vừa đến đầu ấp, hai anh em đã gặp mấy người mặc áo đen. Anh Hạnh giới thiệu “Đây là các du kích của ấp đấy”. Trời tối mờ mờ, anh du kích dẫn Thanh Hạnh và Lương đến cuối ấp, sát một hàng rào thép gai. Anh ta chỉ tay lên trên đồi rồi nói thầm:

– Đây là đồn địch do một Đại đội canh giữ. Đồn này có 4 hàng rào thép gai bảo vệ, với rất nhiều mìn được gài ở dưới. Thẳng chỗ này lên có một cái bốt trong đặt một khẩu đại liên.

Anh nói vừa dứt lời, chúng đã bắn pháo sáng cầm canh. Anh du kích lại thì thầm:

– Tối nào cũng từ 9 giờ đêm đến 4 giờ sáng là chúng bắn pháo sáng cầm canh. Các anh muốn đánh đồn phải nhớ quy luật này mới được.

Anh Hạnh khẽ bảo Lương:

– Em nhớ kỹ địa hình địa vật và quy luật sinh hoạt của địch để về vẽ bản đồ và tổng hợp báo cáo cấp trên.

Sáng hôm sau, mặt trời vừa lên, Lương đã vẽ xong bản đồ. Anh Hạnh hỏi:

– Theo em muốn đánh đồn này thì nên đánh như thế nào? Em cứ trình bày, đừng ngại. Có gì anh sẽ bổ sung cho.

Thế là Lương mạnh dạn:

– Theo em, thứ nhất về thời gian, ta nên đánh vào lúc chúng chủ quan và sơ hở nhất. Đó là khoảng nửa đêm. Lúc bấy giờ bọn lính trên đồn và ở các nơi có khả năng chi viện đều đang say giấc. Địch muốn tập trung được binh hỏa lực cũng mất mươi phút. Với thời gian ấy ta đã làm được khối việc. Thứ hai về vị trí tấn công, nên đánh thẳng vào cổng chính vì ở đấy chỉ có một cánh cửa. Dù chắc chắn đến đâu vẫn dễ dàng hơn việc phải vượt qua bốn năm lớp hàng rào dây thép gai được địch chôn rất nhiều mìn. Thứ ba về tập kết chiếm lĩnh trận địa, nên phối hợp với dân ấp. Thời gian 7 giờ tối bộ đội bắt đầu qua cổng ấp. Trước 9 giờ đêm đã ém quân xong. Sở dĩ lịch trình như vậy là tránh pháo sáng cầm canh của địch có thể phát hiện ra. Thứ tư về vũ khí, cần sử dụng vũ khí sát thương cao đánh phủ đầu địch, sau khi chúng ngấm đòn với các vũ khí này, lập tức cho bộ đội xung phong dánh chiếm lô cốt ngay.

Anh Thanh Hạnh khen đấy là phương án tốt. Với phương án đó, trận đánh đã thành công như mong đợi. Từ những bài học mà anh Thanh Hạnh chỉ bảo, Lương đã trưởng thành từng bước, để hôm nay được Trung đoàn cho đi học lớp đào tạo Tiểu đội trưởng. Đó là tình nghĩa đồng đội mà Lương không bao giờ quên.

 Còn sau trận đánh cứ điểm 601, Nguyễn cũng được Thanh Hạnh giới thiệu đi học lớp y tá cấp tốc 30 ngày do Quân y sỹ Trung đoàn bồi dưỡng.

Việc Lương được cử đi học lớp A trưởng chẳng có gì phải phân vân, nhưng việc anh Thanh Hạnh “bắt” Nguyễn đi học lớp y tá cấp tốc lại là việc đáng phải bàn luận. Ở đời ai cũng có sở thích, mà vào chiến trường sở thích của Nguyễn là được đánh giặc. Nguyễn không thích làm cái nghề tiêm chọc, băng bó vết thương, mổ xẻ thương binh, khâm liệm tử sỹ. Ấy thế mà anh Thanh Hạnh lại bắt Nguyễn đi học.

Tưởng lý do là thế nào, hóa ra chung quy cũng tại chuyện Y Sinh đến băng bó chân cho Nguyễn ngày chuẩn bị đánh cao điểm 601 mà ra. Ngày ấy đại đội thiếu y tá, chưa bổ sung kịp. Thế là bất kỳ việc gì liên quan đến băng bó cũng phải kêu đến cấp trên. Anh Hạnh chả phê bình Y Sinh “Vì sao lại đến hầm Nguyễn chơi khuya thế”. Y Sinh không chịu, cãi lại “Anh Nguyễn bị thương, y tá không có, Y Sinh không sang băng rửa cho anh Nguyễn thì việc ấy để ai làm”. Câu nói ấy làm Đại đội trưởng Thanh Hạnh giật mình “Đúng thật, một vết thương xoàng nếu như không băng bó kịp thời sẽ làm mất sức chiến đấu của chiến sỹ, có khi còn nguy hiểm cả đến tính mạng. Đành rằng các khóa huấn luyện tân binh đều có huấn luyện các thao tác sơ cứu khi bộ đội bị thương. Nhưng ở chiến trường trăm công ngàn việc, người lính đôi khi không đủ thời gian và kinh nghiệm để quan tâm đến các lĩnh vực ấy. Vậy thì bây giờ bộ đội đang rỗi rãi, sao không cho anh em đi học nhỉ”.

Và thế là ngôi sao quả tạ ấy lần này rơi trúng vào đầu Nguyễn. Nguyễn vẫn không chịu. Anh mặc cả với Đại đội trưởng “Nhưng mà đi học bồi dưỡng về em vẫn ở đơn vị chiến đấu đấy”. Thanh Hạnh phải gật đầu Nguyễn mới nghe lời. Sau một tháng “dùi mài kinh sử” Nguyễn đã tốt nghiệp lớp bồi dưỡng y tá cấp tốc. Cũng khai giảng, bế giảng, cũng giấy xác nhận có dấu và chữ ký của Quân Y sỹ Trung đoàn như ai, chẳng kém cạnh gì.

Vẫn chưa hết. Đại đội trưởng Thanh Hạnh còn luôn để lại trong lòng Thanh Nguyễn những kỷ niệm đầy tình nghĩa. Ấy là khi vào chiến trường chưa lâu, cả đơn vị đang đóng trong những cánh rừng Sa Thầy. Một hôm anh nuôi Trung đoàn đánh bẫy được một con lợn rừng sống nguyên. Thủ trưởng Khoát bảo Thanh Hạnh:

– Đơn vị các cậu có anh nào biết đánh tiết canh, cử lên làm cho anh em tớ mấy bát.

Thanh Hạnh vỗ trán:

– Hình như đơn vị em có chiến sỹ Hà Thanh Nguyễn và Hà Khắc Lê biết làm.

– Thế thì bảo các cậu ấy lên đây.

– Vâng.

Thế rồi chẳng biết hai anh em nhà ấy làm thế nào mà thủ trưởng Khoát đi đâu cũng khen hết lời, nhất là Nguyễn. Thủ trưởng còn dặn:

– Đây là những tay ba-toa sành sỏi nhất mà tớ từng gặp. Từ giờ Trung đoàn có liên hoan gì nhớ bảo hai cậu này lên giúp nhé.

*

Lương và Nguyễn đang trầm tư trước những hồi ức cùng người anh đồng hương Hà Thanh Hạnh thì Chính trị viên Đại đội Đinh Thế Hùng vừa họp ở Tiểu đoàn về. Chiếc xà cột vải chứa sổ sách giấy tờ đeo trên vai bập bênh cùng khẩu súng K54 bên hông. Thấy Lương và Nguyễn đang thần người trước cửa lán dã chiến, anh cười hiền lành hỏi:

– Đang nhớ người yêu hay sao đấy?

Lương lẩu bẩu:

– Có mà đang ngứa ngáy chân tay đây thủ trưởng ơi.

Nguyễn đế thêm vào:

– Đã lâu nay ngón tay chưa được xiết cò băng đạn nào cho ra hồn, nên có vẻ buồn bực ra phết Chính trị viên ạ. Liệu sắp được đánh trận chưa anh?

Hình như bố mẹ sinh ra không đúng giờ làm lãnh đạo quân sự, nên tính Đinh Thế Hùng không vội vàng bao giờ. Anh vấn nhỏ nhẹ:

– Sắp rồi. Đến lúc ấy các cậu chả bơi ra cũng không hết việc đâu. Bây giờ tớ phân việc cho các cậu nhé.

Nghe Chính trị viên nói đến đây cả Lương và Nguyễn lập tức đứng dậy, nét mặt nghiêm trang:

– Chúng tôi đã sẵn sàng nhận lệnh.

– Ồ, không phải nghiêm chỉnh theo điều lệnh thế đâu. Chúng ta là anh em lính chiến mà. Đại đội ta sẽ được bổ sung thêm các chiến sỹ mới vừa ở miền Bắc vào. Anh em chưa cọ sát với chiến trận. Các cậu đã dày dạn trận mạc phải giúp đỡ, bảo ban, huấn luyện để họ trưởng thành nhé.

Lương và Nguyễn vẫn thực hiện chuẩn điều lệnh dập gót:

– Rõ.

Rồi mới xuề xòa, vui vẻ:

– Bao giờ anh em về ạ?

– Chiều nay thôi. Lương được Ban chỉ huy Đại đội giao nhiệm vụ là Tiểu đội trưởng tiểu đội hỏa lực, Nguyễn tiểu đội phó và là xạ thủ B40. Thế có được không?

– Được ạ.

Chiều hôm đó tiểu đội của Lương và Nguyễn được bổ sung thêm một đợt toàn là lính mới tỉnh Thanh Hoá cho đủ 11 người. Số lính cũ không kể Lương và Nguyễn chỉ có Nam, Tấn và Phong. Lương chia thành 3 tổ tam tam. Cứ 3 người, một lính cũ, hai lính mới làm một tổ. Về hỏa lực Lương phân công: Nguyễn là tiểu đội phó giữ B40, các tổ trưởng giữ trung liên RPD hoặc M79 chiến lợi phẩm, còn anh em chiến sỹ sử dụng AK. Ngoài ra mỗi người đều được trang bị lựu đạn, thủ pháo kèm theo.

Trong đội hình của Đại đội, toàn tiểu đội được lệnh hành quân về hậu cứ Đồn Tằm, đào hầm âm, chuẩn bị tập luyện các chiến thuật phối hợp chiến đấu.

Đồn Tằm là một làng giải phóng, nhân dân đều là người Gia-Rai một lòng một dạ với cách mạng. Làng nằm cách căn cứ địch chừng vài cây số. Trước đây khi Hiệp định Pa-Ri mới được ký kết, hai bên theo điều khoản hiệp định cam kết “nước sông không phạm nước giếng”, không xâm phạm đất đai của nhau, chờ thành lập Chính phủ Liên hiệp. Nhưng sau đó chính quyền Việt Nam Cộng Hòa phá vỡ cam kết, liên tục mở các đợt tấn công lấn chiếm vùng giải phóng của ta, nên bây giờ những điều khoản ghi trong hiệp định không được thực thi đầy đủ.

Đúng dịp ấy Tiểu đoàn lại được đón nhận Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân do Nhà nước trao tặng. Biết tin dân làng Đồn Tằm vui lắm. Họ ủng hộ Tiểu đoàn hai con trâu Cách mạng tức là trâu do dân đóng góp nuôi trong rừng và năm tạ gạo nương để liên hoan. Theo đề nghị của Lương, dân làng còn tổ chức canh gác cho tiểu đội của anh đến Bầu Cạn hái chè và cà phê về cho đơn vị uống. Thế là suốt một tuần liền, cả tiểu đội ngày đi hái chè, đi hái cà phê, tối lại sao chè, giã quả cà phê trong những cái cối bằng mũ sắt rồi đãi lọc bỏ vỏ. Hôm sau đợi nắng lên đem phơi. Cuối tuần cả tiểu đội mỗi người được một gùi đầy, nửa là chè sao, nửa là hạt cà phê tươi đem về cho Đại đội. Không những thế mấy hôm sau Tiểu đoàn còn được đón đoàn Nghệ thuật Tây Nguyên về phục vụ một đêm rất vui với nhiều tiết mục đặc sắc.

Thế nhưng ở hậu cứ cũng khối chuyện cười đến đau bụng. Ấy là chuyện mấy anh ốm yếu gầy còm ở đội thu dung mà vẫn bắn rơi được một chiếc trực thăng nghênh ngang hiếu chiến của địch.

Số là tập luyện được hơn hai tháng thì Tiểu đội Lương được lệnh cùng Tiểu đoàn đi đánh đồn Đức Cơ lần 2. Mục đích lần này là giải phóng luôn ấp Đức Cơ để thông đường Giải phóng theo biên giới Căm Pu Chia về phía Nam. Hà Thanh Nguyễn mới sốt rét dậy, còn yếu, nên không được tham gia theo đơn vị. Anh ở hậu cứ một mình, hàng ngày tự nấu ăn lấy.

Một hôm mờ sáng vừa tỉnh giấc, Nguyễn đã nghe có tiếng súng ở phía rẫy đơn vị tăng gia. Nguyễn bò dậy đi theo dọc bờ suối, vừa đi vừa quan sát. Bỗng thấy hai chiếc máy bay trực thăng phành phạch bay rất thấp dọc theo bờ suối. Máy bay quạt gió khiến cây hai bên bờ suối nghiêng ngả. Nguyễn vội núp vào một khe đá. Anh tưởng chúng tìm bãi đổ quân, nhưng không phải. Lúc này từ phía đại đội tăng gia vang lên một loạt điểm xạ AK. Một lúc sau máy bay địch kéo lên cả đàn 5, 6 chiếc. Chúng bắn đại liên và cối cá nhân xuống khu đại đội tăng gia như vãi trấu. Đến chiều Nguyễn chống gậy lò dò xuống, thấy các anh ở đại đội tăng gia đang mổ lợn.

Thì ra hồi sáng, mấy anh lính thu dung người gầy như que củi phát hiện ra đàn lợn rừng xuống phá nương rau của đơn vị, nên mang súng ra bắn. Lợn chạy nháo nhào, nhưng chẳng trúng con nào. Đang cay cú vì “xôi hỏng bỏng không” thì mấy cái trực thăng cứ ầm ĩ quạt gió dọc theo suối. Tức quá, các anh giương súng lên điểm xạ 2 phát trúng ngay tên phi công. Chiếc trực thăng bị bắn chả biết thế nào lại rơi vào chỗ đàn lợn rừng ban sáng đang ẩn nấp, khiến hai con to nhất bị chết cháy. Lúc sau cả đàn trực thăng địch kéo lên để lấy xác tên phi công về. Thế là hai vị còm nhom không đủ sức đi chiến đấu mà lại làm nên chuyện lớn. Đội tăng gia nhờ vậy được một bữa cải thiện “lên bờ xuống ruộng”.

Anh em trong tiểu đội Lương đánh trận về nghe kể cười rung cả sạp.

V.Q.K

 

Bài Viết Tương Tự

Giữ gìn bản sắc “Cội nguồn” trong dòng chảy hội nhập
Slider

Giữ gìn bản sắc “Cội nguồn” trong dòng chảy hội nhập

          Trong hành trình phát triển của mỗi dân tộc, cội nguồn luôn giữ một vị...

Chương trình tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa Du lịch Đất Tổ năm 2026
Infographic

Chương trình tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa Du lịch Đất Tổ năm 2026

Chương trình tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần Văn hóa, Du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026    ...

Tọa đàm “Nâng cao chất lượng sáng tác mỹ thuật trong kỷ nguyên mới”
Slider

Tọa đàm “Nâng cao chất lượng sáng tác mỹ thuật trong kỷ nguyên mới”

     Sáng 21-3-2026, Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Phú Thọ và Chi hội Hội Mỹ thuật VN tỉnh Phú...

Mùa đông và những góc nhìn của hoạ sĩ

Mùa đông và những góc nhìn của hoạ sĩ

Nhà sưu tập Nguyễn Mạnh Phúc – Cả đời đau đáu với quê hương

Nhà sưu tập Nguyễn Mạnh Phúc – Cả đời đau đáu với quê hương

Next Post
Trang trại cá tầm

Trang trại cá tầm

Chùm thơ Nguyễn Đình Phúc

Chùm thơ Nguyễn Đình Phúc

Những người lính chiến (Phần 5)

Những người lính chiến (Phần 6)

Logo Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Phú Thọ

VNDT - Mỗi một chi tiết là một Nghệ Thuật

Thông Tin Liên Hệ


  • Địa chỉ: Số 160 - Đường Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - Thành Phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
  • Điện thoại: 0210.3847.337
  • Email: vanhocnghethuatphutho@gmail.com
  • Giấy phép xuất bản số: 17/GP-TTĐT ngày 07/11/2014 – Sở Thông tin và Truyền thông Phú Thọ
  • Chịu trách nhiệm chính: Cao Hồng Phương - Chủ tịch Hội Liên Hiệp VHNT Phú Thọ

Liên Hệ Quảng Cáo


  • Liên Hệ Quảng Cáo: Thông tin liên hệ gửi đến Email Hội Liên Hiệp VHNT Phú Thọ

Vị Trí Nghệ Thuật

© 2003 VNDT - Bản Quyền thuộc về Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Phú Thọ.

No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tác giả
    • Mỹ thuật
    • Thơ
    • Văn Học
    • Nhiếp ảnh
    • Âm nhạc
    • Múa
    • Sân khấu
    • Nghiên cứu Phê bình
    • VHNT các Dân tộc thiểu số
  • Thông báo
  • Tạp Chí Văn Nghệ Đất Tổ

© 2023 VHNTDT - Website thuộc quyền sở hữu của VHNTDT.