NHỮNG NGƯỜI LÍNH CHIẾN
3
Thanh Hạnh nóng ruột muốn gặp Tham mưu trưởng để nhận nhiệm vụ mới. Anh nhấp nhổm ngồi bó gối trong căn nhà âm dã chiến, ngắm nhìn Hạ Lan đang ngủ ngon lành. Anh biết đã mấy ngày nay Tham mưu trưởng làm việc trắng đêm mà anh em chiến sỹ không dám nhắc. Thanh Hạnh đã từng là lính trinh sát, đã lăn lộn mấy năm liên tục với công việc điều nghiên trận địa. Anh không những có năng lực trong công việc dò, gỡ mìn, gỡ rào thép gai trên đường bò vào trận địa địch, mà còn có duyên khi tham gia ý kiến ở các cuộc họp với cấp trên, nhằm phán đoán ý đồ tác chiến của đối phương, khi xây dựng kế hoạch đánh địch.
Mấy hôm trước Thanh Hạnh được Tham mưu trưởng Hạ Lan cho đi dự cuộc họp nghe phổ biến Nghị quyết của Quân ủy Trung ương đối với các cán bộ từ cấp Trung đoàn trở lên đang đóng quân trên địa bàn Tây Nguyên. Theo đó Trung ương nhận định: Cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam hiện nay đã bước sang giai đoạn mới. Nhân dân Việt Nam đã từng bước thực hiện thành công lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.
Với việc đánh thắng Đế quốc Mỹ trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” khi chúng dùng B-52 ném bom rải thảm suốt 12 ngày đêm, hòng hủy diệt Thủ đô Hà Nội, nhân dân Việt Nam đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Quân đội Mỹ đã phải không kèn không trống cuốn cờ, cút khỏi nước ta
Như vậy về danh nghĩa trên chiến trường miền Nam Việt Nam chỉ còn quân đội ngụy, được sự hà hơi tiếp sức bằng đô-la và vũ khí Mỹ, chống lại Quân Giải phóng. Thời cơ giải phóng miền Nam đã đến.
Vì vậy Trung ương đã quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên và thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch gồm Trung tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, Thiếu tướng Vũ Lăng làm Phó Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy. Trung ương còn cử Đại tướng Văn Tiến Dũng trực tiếp thay mặt Trung ương cùng Bộ chỉ huy chỉ huy chiến dịch, thể hiện quyết tâm chiến lược của dân tộc ta, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
*
Tối hôm đó đồng chí liên lạc đến báo Thanh Hạnh lên gặp Tham mưu trưởng Hạ Lan. Ngồi chưa ấm chỗ Tham mưu trưởng đã mở đầu câu chuyện:
– Cuộn phim mà cậu nhận của Z5 mang về đã cho biết Sư đoàn 23 của ngụy do Chuẩn tướng Lê Trung Tường làm Tư lệnh đánh giá tình hình và cho rằng chúng ta đang tập trung các Sư đoàn thiện chiến ở Bắc Tây Nguyên, dự kiến mở chiến dịch giải phóng Bắc Tây Nguyên trong chiến cuộc Xuân Hè năm nay. Chính vì vậy Lê Trung Tường đã tổ chức cắm chốt đại bản doanh ở Kon Tum và điều hầu hết các Trung đoàn thuộc sư đoàn ông ta quản lý về đây, chỉ để một bộ phận cơ động đóng ở Buôn Mê Thuột, án ngữ Nam Tây Nguyên. Tuy vậy các tướng lĩnh cao cấp Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Ban tham mưu Sư đoàn 23 cũng còn nhiều ý kiến khác nhau. Một số không nhỏ các tướng lĩnh ngụy quân chưa tán thành với quyết sách của Chuẩn tướng Lê Trung Tường.
Dừng một lát như để cho Hạnh hiểu hết từng lời nói của mình, Tham mưu trưởng Hạ Lan mới nói tiếp:
– Tình hình mặt trận bây giờ đang rất khẩn trương. Phương án tác chiến của Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên đã được Trung ương phê duyệt. Nội trong tuần tới Bộ sẽ điều Sư đoàn 968 từ Nam Lào về đảm trách nhiệm vụ tại đây và điều động Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 đi nhận nhiệm vụ mới. Lực lượng của địch vốn rất mạnh, cho nên hướng tiến công chiến lược ở mặt trận Tây Nguyên của ta sẽ phải rất linh hoạt. Chỉ thị của Trung ương là chúng ta phải hết sức khôn khéo nghi binh lừa địch, dụ chúng tập trung hầu hết sức mạnh binh lực, hỏa lực về Bắc Tây Nguyên. Chỉ có làm được điều ấy ta mới đủ sức và lực đánh một đòn quyết định giải phóng Nam Tây Nguyên tạo ra cục diện chiến tranh có lợi cho ta.
Tham mưu trưởng dừng lại, như để Thanh Hạnh hiểu hết những lời nói của mình. Tuy vậy, với tư duy của một người trinh sát kỳ cựu, Thanh Hạnh thầm nghĩ, Tham mưu trưởng Hạ Lan không phải vô cớ khi nói những bí mật, mà chỉ các tướng lĩnh cao cấp trong Bộ chỉ huy chiến dịch mới được biết cho mình nghe. Chắc chắn đằng sau những ý kiến này, phải là một nhiệm vụ hệ trọng mà ông sẽ giao cho mình thực hiện. Quả thực, lát sau Tham mưu trưởng mới tiết lộ:
– Vì vậy, Tư lệnh chiến dịch giao cho đồng chí nhiệm vụ, ngay ngày mai tiếp tục về Thị xã, đóng vai trò là Kim Ngọc, thiếu gia nhà buôn bán cafe Kim Bình, qua Z5 duy trì mối quan hệ đã có với Lâm Hạc, viên sỹ quan tùy tùng của Chuẩn tướng Lê Trung Tường. Đồng chí sẽ phải làm bằng mọi cách để địch tin rằng, chúng ta sẽ mở chiến dịch giải phóng Bắc Tây Nguyên trong chiến cuộc Xuân Hè năm nay. Tất nhiên mũi của đồng chí chỉ là một trong nhiều mũi, mà kế sách của Bộ chỉ huy chiến dịch áp dụng, phục vụ nhiệm vụ này. Đồng chí có ý kiến gì không?
Thanh Hạnh nghiêm người, nhìn trực diện Tham mưu trưởng Hạ Lan, đáp rõ ràng, mạch lạc:
– Nhiệm vụ Thủ trưởng giao tôi đã rõ.
Tham mưu trưởng nhìn anh cười, rồi đưa tay ra bắt:
– Công việc của đồng chí là tùy cơ ứng biến. Định kỳ về báo cáo với Bộ chỉ huy chiến dịch. Chúc đồng chí sớm hoàn thành nhiệm vụ.
*
Tối hôm sau, qua Nho Quế Kim Ngọc đã lại cùng Lâm Hạc ngồi uống cafe tại bar Mi-mo-sa. Cũng với cô phục vụ mặc váy ngắn, đeo phù hiệu cánh hoa mi-mo-sa, cũng với chiếc bàn ở góc bar, họ nhâm nhi ly cafe và lắng nghe những bản nhạc du dương, ngắm những đôi tình nhân, tay bám hờ lưng eo thon, xoay những vòng êm ái trên sàn nhẩy. Có khác chăng là Kim Ngọc đã biết tên cô phục vụ ở quán Mi-mo-sa ấy là Vũ Tân, người Huế, có cùng huyết thống với Nho Quế, mới về Thị xã này làm được vài tháng.
Với tài dẫn chuyện của Nho Quế, khiếu văn chương thơ phú của Lâm Hạc dần được bộc lộ. Chất giọng Sài Gòn êm và nhẹ, Lâm Hạc đọc cho mọi người nghe những bài thơ anh viết từ hồi còn đi học đệ nhị trung học phổ thông. Những câu thơ tình của Lâm Hạc đã làm nao lòng bao người ngày ấy “ Long lanh, rạo rực sân chèo/ Em làm nghiêng ngả, liêu xiêu bao người…./ Giọng chèo, nghiêng cả dòng sông/ Thuyền anh chống chếnh, mãi không đến bờ”. Sau đó Lâm Hạc mời Kim Ngọc, thiếu gia nhà Kim Bình, đọc thơ của mình. Kim Ngọc có vẻ bí vì không mấy khi được giao lưu như thế này. Sau chút bối rối đành cất giọng đọc bài thơ về hoa dã quỳ anh vừa viết cách đây không lâu “Dã Quỳ ơi, Dã Quỳ ơi/ Trời cao nguyên đã chiều rồi đó em/ Gió mùa này chẳng dịu êm/ Và sương rơm rớm chưa quen lối về/ Em tưng bừng khắp sơn khê/ Mặc trời tai tái vẫn khoe sắc vàng/ Hồn nhiên em cứ xênh xang/ Chẳng nề sỏi đá, chẳng màng hư danh/ Ai đi về phía thị thành/ Nhớ chăng những cánh mong manh: Dã Quỳ”.
Kim Ngọc vừa đọc xong, Lâm Hạc đã đập nhẹ hai bàn tay vào mặt bàn, nức nở:
– Không ngờ anh Kim Ngọc viết thơ hay thế. Quả không hổ danh là thiếu gia. Tôi rất thích khổ thơ cuối: “Hồn nhiên em cứ xênh xang, Chẳng nề sỏi đá, chẳng màng hư danh. Ai đi về phía thị thành, Nhớ chăng những cánh mong manh: Dã Quỳ”. Phải là người có nhiều trải nghiệm trong cuộc đời, mới viết được những câu thơ đầy thế sự như thế.
Nho Quế cũng đế thêm vào:
– Anh Lâm Hạc chưa biết thôi. Thiếu gia Kim Ngọc còn là một chuyên gia về bon-sai cây kiểng nữa đấy.
Đến lượt Lâm Hạc tròn xoe mắt, ra vẻ thán phục:
– Cả đến bon-sai cây kiểng mà anh cũng là chuyên gia à? Tôi cứ tưởng anh chỉ giỏi về cafe thôi. Ai ngờ thơ phú, bon-sai anh cũng giỏi, thì tranh hết cả phần hiểu biết của thiên hạ rồi. Xin bái phục, bái phục.
Rồi anh nói tiếp giọng hồ hởi:
– Tôi có anh bạn tên là Tùng Dương, Trung tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45, cánh tay mặt của Chuẩn tướng Lê Trung Tường rất mê cây kiểng. Hôm nào rảnh, mời anh đến chơi nhà Tùng Dương với tôi nhé.
Kim Ngọc tỏ ra ái ngại:
– Tôi nhờ có Nho Quế nên mới được nói chuyện với anh, chứ còn các vị đó trên cầu vai toàn sao với gạch, tôi đâu dám ngang bằng sổ thẳng mà chuyện trò?
– Ồ, không đâu. Chúng ta tuy mỗi người một công việc, nhưng đều là dân trí thức. Có phải là võ biền đâu. Mà cũng trước lạ sau quen. Anh cứ đi với Lâm Hạc này, biết đâu chỉ vài ba câu chuyện, hợp nhau lại chả thân đến con chấy cắn đôi ấy chứ!
Nho Quế biết Kim Ngọc đang dụ Lâm Hạc, nên lựa lời nói thêm vào:
– Anh Kim Ngọc đồng ý đi. Thêm một người bạn là thêm một liều thuốc đại bổ cho cuộc sống. Nhất là đối với các chỉ huy quân đội như anh Lâm Hạc và Tùng Dương. Đồn điền cafe của bác anh, biết đâu chả có lúc lại là địa chỉ cần các anh ấy giúp đỡ?
– Vâng, các bạn đã nói thế thì hôm nào anh Lâm Hạc cho tôi đi với nhé!
*
Trung tá Tùng Dương là sĩ quan trẻ nhất trong Sư đoàn 23. Anh tốt nghiệp loại ưu tại Trường Sĩ quan Đà Lạt, sau đó được đích danh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cử đi tu nghiệp quân sự tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và tốt nghiệp trước khi Chính phủ Hoa Kỳ ký Hiệp định Pa-ri đầu năm 1973. Về nước, anh được Thiếu tướng Phạm Văn Phú nhận vào làm trợ lý cho ổng. Năm sau Tùng Dương được cử làm Trung đoàn phó, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45, Sư đoàn 23 của Chuẩn tướng Lê Trung Tường.
Tùng Dương rất tự hào về khẩu hiệu thể hiện khí phách của Sư đoàn mình. Đó là “Nam bình, Bắc phạt, Cao nguyên trấn”. Anh luôn lấy đó làm tư tưởng hành động, và luôn nhắc nhở các sĩ quan, binh lính dưới quyền về trách nhiệm của mình. Được Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn tin tưởng, Tùng Dương rất lấy làm kiêu hãnh. Anh nguyện xả thân vì nhiệm vụ được giao. Cũng chính từ ý chí đó, anh đã rèn luyện các đơn vị dưới quyền mình, luôn lấy ý thức Danh dự quân nhân và Tổ Quốc làm trọng trong mọi hành động.
Đa tài và cũng đa tình, Tùng Dương luôn có xung quanh nhiều bóng hồng xinh đẹp, dù anh vẫn là một kẻ độc thân. Hỏi thì anh bảo anh trung thành với chủ nghĩa tự do. Tùng Dương có một căn biệt thự nhỏ xinh ở khu gia binh Trung đoàn, và đam mê chơi cây kiểng, nhất là cây kiểng bon-sai. Mỗi khi ở nhiệm sở về, dù bận đến thế nào, nhưng bao giờ Tùng Dương cũng dành một khoảng thời gian nhất định, tự tay chăm sóc cho những cây kiểng bon-sai của mình.
Buổi sáng chủ nhật tuần ấy. Tùng Dương vừa chơi xong bài quyền mà anh yêu thích, đã thấy chiếc xe Jeep của Lâm Hạc, viên sỹ quan tùy tùng của Chuẩn tướng Tư lệnh, đỗ xịch trước cửa. Trên xe bước xuống, ngoài Lâm Hạc còn có mấy người nữa. Chưa kịp thi lễ Lâm Hạc đã vồn vã:
– Chào người anh em chiến hữu. Toa đang làm gì đấy? Đã cafe sáng chưa vậy?
Tùng Dương vừa hồ hởi cười, vừa vui vẻ hỏi lại:
– Chưa. Đêm qua nhận được phôn của toa, nên moa vẫn có ý chờ. Đây là các giai nhân mà toa nói với moa đêm qua đó hả?
– Xin giới thiệu với toa, đây là anh Kim Ngọc, thiếu gia nhà kinh doanh cafe danh tiếng Kim Bình. Còn đây là hai chị em Nho Quế và Vũ Tân, bạn của moa và Kim Ngọc.
– Xin chào các bạn. Xin mời mọi người vào nhà.
Lâm Hạc ý tứ:
– Thôi. Có cafe ngon thứ thiệt của anh Kim Ngọc đây. Mời toa đi tắm rồi ta hãy thưởng thức. Giờ moa đưa mọi người đi ngắm vườn bon-sai cây cảnh của toa cái đã.
– Thế cũng được. Tay vệ sỹ thân tín của moa, người chuyên chăm sóc vườn kiểng bon sai, hôm nay xin phép nghỉ đưa vợ về nhà bố mẹ đẻ, để đi nhà thương khám.
– Nhà hắn ở đâu toa?
– Hắn ở rể theo phong tục “bắt chồng” của một cô gái Xê-Đăng, ở Đắk La, xinh đẹp, trắng trẻo và mơn mởn đào tơ.
– Thế vợ hắn làm sao mà phải đi nhà thương?
– Vợ hắn có chửa đến tháng thứ sáu. Bố mẹ hắn ở Thị xã giầu lắm. Nghe đâu cũng sắp đến hết thời gian ở rể, hắn được phép đón vợ về thị xã rồi.
– Thế à? Thôi toa đi tắm đi. Tý nữa tha hồ đàm đạo.
Nói rồi Lâm Hạc kéo mọi người ra thăm vườn bon-sai của Tùng Dương ở trước sân. Tại đây có chừng hơn hai chục chậu cây kiểng. Lâm Hạc hỏi nhỏ Kim Ngọc:
– Anh thấy thế nào, có đáng được cho là người sành chơi bon-sai không?
– Đáng chứ. Quá đáng là đằng khác.
– Tôi không hiểu lắm. Mà sao lại gọi là bon-sai?
– Bon-sai là từ tiếng Nhật. Bon là cái khay, sai là cây. Bon-sai là “loại cây kiểng nhỏ có dáng cổ thụ trồng trong chậu cảnh”. Có thể gọi đó vừa là bức tranh phác thảo thiên nhiên, vừa là sự kết hợp tài tình giữa thiên nhiên và nghệ thuật.
– Ra thế.
Nho Quế thắc mắc:
– Em thấy bảo chơi bon-sai, không những tốn nhiều thời gian, mà còn tốn nhiều tiền đầu tư nữa? Vậy sao không bỏ tiền vào trồng hẳn vườn cây ăn quả, đã có bóng mát trong những ngày nắng nóng, lại kinh doanh thu được lợi nhuận nữa. Thế có phải hơn không?
Kim Ngọc cười:
– Chơi bon-sai là một thú vui tao nhã của những đại gia, quân tử. Không những thế, còn là hình thức rèn luyện đức tính khiêm nhường, giản dị, kiên nhẫn, tin tưởng vào cuộc sống, vượt qua mọi khó khăn trong hiện tại. Bởi đây là kết quả của một quá trình lao động vất vả, cả về chuyên môn và nghệ thuật, từ cắt tỉa, uốn nắn đến chăm sóc, với các nguyên tắc, gu thẩm mỹ phù hợp, để tạo nên một tác phẩm mang tính nghệ thuật cao, song rất tinh tế, gợi ý về một điều gì đó, hơn là khẳng định. Anh Tùng Dương đây là một đại gia, xứng tầm với danh xưng quân tử đấy. Những người như thế này, trong xã hội ta hiện nay không có nhiều đâu.
Lâm Hạc nghe Kim Ngọc đánh giá về bạn mình, cũng thấy hởi lòng hởi dạ.
Vũ Tân khéo léo hỏi thêm:
– Anh ơi, em thấy ở đây có nhiều hình dáng cây khác nhau. Sao lại phải tạo nhiều hình dáng thế anh nhỉ?
– À, đó là do mỗi dáng cây thể hiện một ý nghĩa, một triết lý sống khác nhau, mà gia chủ muốn gửi gắm, để người thưởng thức hình dung ra tư tưởng của mình. Thí dụ, cây thông này là một bon-sai dáng trực, nó được nghệ thuật hóa ẩn dụ thế hiên ngang, bất khuất. Còn cây sanh kia có dáng nghiêng, ẩn dụ sự mềm mại, duyên dáng nhã nhặn, hình tượng của người phụ nữ. Cây cần thăng kia có dáng hoành, ẩn dụ sự mềm mại dịu dàng, duyên dáng. Cây sanh kia có dáng huyền, trong điều kiện khí hậu nghiệt ngã ở sườn núi, vách đá vẫn có thể sống, gốc cây bám chắc vào đá, cheo leo giữa trời mây, ngọn cây vươn lên tạo hình ảnh của sự kiên trì nhẫn nại, vượt qua phong ba bão táp, hướng tới tương lai.
Lúc này Lâm Hạc như vừa thoát khỏi sự đam mê trước những lời giảng giải của Kim Ngọc, anh lên tiếng:
– Thế còn các cây kia có ý nghĩa gì vậy?
Kim Ngọc chỉ từng cây:
– Đây là cây thế trượng phu. Cây trong chậu nhưng có cảm giác ngạo nghễ, hiên ngang đứng trên núi cao, nói lên khí tiết thẳng thắn, cương trực, xứng với tâm thế của các bậc hiền tài, chỉ huy tướng lĩnh. Còn đây là cây thế tam đa: đa phúc, đa lộc, đa thọ, được tạo hình từ cây 2 cành 1 ngọn hoặc cây 3 thân, các tán được cắt tỉa tròn trịa như hình đĩa xôi, theo quan niệm quả phúc. Cây có 4 cành 1 ngọn kia là cây thế ngũ phúc. Thế này thường ở dáng trực biến hoá. Thế tam đa và thế ngũ phúc đi đôi với nhau, đều là cây trực thọ.
– Còn các nhóm cây khác?
– Các cây có hai thân cùng gốc kia là cây thế phụ tử hoặc mẫu tử, cây con nhỏ bằng phân nửa cây bố mẹ. Còn hai cây này là thế huynh đệ khi cả hai cao ngang nhau.
Tùng Dương tắm xong từ lâu. Anh đứng khuất sau mọi người, lắng nghe Kim Ngọc giảng giải và cảm thấy ấm lòng trước những hiểu biết sâu sắc của người bạn lần đầu được gặp gỡ. Tự nhiên cảm giác tin cậy và gần gũi trào dâng, khiến nhu cầu muốn bắt chuyện với Kim Ngọc trỗi dậy. Anh hồ hởi bước lên:
– Xin chào các bạn.
Lâm Hạc hai tay khoanh trước ngực kính cẩn:
– Đúng là “Nghề chơi cũng lắm công phu” thật. Xem ra cũng rối rắm ra phết toa ạ. Moa là moa kính trọng toa đấy. Mới nghe anh Kim Ngọc nói sơ qua, mà moa đã hoa hết cả đầu óc. Thế mà toa vừa giỏi việc binh đao, vừa hay việc bon-sai cây kiểng thì phải gọi là quá tài.
– Có gì đâu. Phải như anh Kim Ngọc đây, vừa làm kinh tế giỏi, lại có kiến thức uyên thâm về bon-sai, mới là người chúng ta đáng học tập. Còn toa với moa chỉ biết mỗi việc đánh nhau, chả có tý kiến thức gì về cuộc sống. Buồn thật. Thực tình tới đây moa phải nhờ anh Kim Ngọc bổ túc thêm. Còn về lĩnh vực bon-sai cây kiểng, anh Kim Ngọc rõ ràng là bác học. Moa nghe ảnh nói cũng mê luôn. Chắc chắn ảnh có nhiều kinh nghiệm về cắt tỉa cây cảnh. Hôm nào phải nhờ ảnh đến chỉ giáo cho vài đường cơ bản mới được. Anh Kim Ngọc nhé.
– Thế thì vinh dự cho tôi quá. Biết đến đâu xin được cống hiến cho anh hết đến đấy ạ.
– Anh quả là người khiêm tốn. Tôi mới là người vinh dự được đón tiếp thiếu gia đấy chứ. Hiểu biết về bon-sai cây kiểng, cho thấy anh là người có vốn sống phong phú. Vốn sống ấy rất cần cho những người như anh em chúng tôi, vốn khô cứng vì đời sống binh đao, quân kỷ. Vì vậy từ nay, bất cứ lúc nào rảnh rỗi, anh Lâm Hạc hãy đưa anh Kim Ngọc đến đây để chúng ta đàm đạo nhé.
Nói rồi Tùng Dương mời mọi người vào nhà thưởng thức cafe. Vừa rót nước sôi vào phin cafe, Tùng Dương vừa hỏi Kim Ngọc:
– Mới ngửi qua hương cafe đã biết đây là loại cafe ngon rồi. Nó là cafe gì đấy anh?
– Đây là hai loại cafe chồn, trồng tại đồn điền cafe của bác tôi. Đó là cafe Moka và cafe Arabica trộn lẫn với nhau theo một tỷ lệ nhất định.
– Ra vậy!
Nhìn tách cafe vừa pha xong ánh lên màu đỏ đậm, mùi hương thơm dịu tỏa lan khắp căn phòng, ai nấy đều nắc nỏm. Họ vừa nhâm nhi, vừa chuyện trò vui vẻ.
Nho Quế bất giác quay sang hỏi Kim Ngọc:
– Đồn điền của bác anh ở trển có bị mấy ông Việt Cộng gây khó khăn gì không?
– Không đâu em. Mình vừa tạo công ăn việc làm cho người dân theo họ, vừa nộp thuế theo quy định cho họ, nên không những không gây khó khăn, họ còn khuyến khích mình mở rộng sản xuất ra nữa.
Vũ Tân ra chiều suy tư, hỏi Tùng Dương và Lâm Hạc:
– Ngồi đây chỉ có hai anh tướng lĩnh Quốc gia là vất vả và gian khổ nhất. Làm sao vừa ngăn chặn được mấy ổng mở rộng vùng giải phóng, vừa giữ bình an cho đất nước. Mà em tin chắc có sự hiện diện của các anh thì đâu sẽ vào đấy thôi. Phải không anh Tùng Dương?
Giọng Tùng Dương trở nên nhỏ lại:
– Cũng không đơn giản đâu. Từ đầu năm đến giờ, Cộng quân đã gấp rút mở xong đường 220 vòng qua Đông Bắc Thị xã Kon Tum, nối đường 14 ở Bắc Võ Định với đường 19 gần đèo Mang Yang, Đông Pleiku. Họ còn lập xong hai bến phà gỗ tại Diên Bình và sông Đak Bla ở phía Bắc Kon-Tum, để thuận tiện cho việc di chuyển quân qua sông nữa. Ý chừng các ổng muốn đánh lớn trong chiến cuộc Xuân Hè này chăng?
– Thế máy bay phi pháo của mình cũng không ngăn chặn được họ ạ?
– Ngăn làm sao được hả em. Lực lượng pháo cao xạ 12ly7 của họ hoạt động suốt mọi nơi, mọi lúc, khiến chiến đấu cơ của ta không cẩn thận là bị bắn cháy ngay.
Trước hai người đẹp, Lâm Hạc muốn tỏ ra hiểu biết, không chịu lép vế:
– Sư đoàn 320A của mấy ổng, còn liên tục dùng súng cối bắn phá các căn cứ La Sơn, Thanh An, Đồn Tằm ở đường 19 phía Tây Plei Ku. Rồi Trung đoàn 95 hoạt động mạnh ở đường 19 phía Đông, chặn đánh các đoàn xe quân sự, và tập kích một số chốt của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngay cả kho xăng Plei Ku được bảo vệ nghiêm ngặt là thế, cũng bị Trung đoàn 198 của họ tập kích.
Tùng Dương bổ sung tiếp:
– Sư đoàn 10 của mấy ổng cũng dùng cối bắn phá vào Thị xã, và đào nhiều hầm hào trong tuyến phòng ngự của họ. Mà ở đâu Sư đoàn 10 của mấy ổng có mặt, là ở đó chắc chắn sẽ có đánh lớn. Đấy là Sư đoàn thiện chiến vào bậc nhất của mấy ổng mà lại.
Nho Quế hỏi lại:
– Thế Quân lực Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu họ à?
Máu anh hùng nổi lên, cả Tùng Dương và Lâm Hạc đều gân cổ lên đáp:
– Chịu là chịu thế nào. Chuẩn tướng Lê Trung Tường đã cho rút phần lớn Sư đoàn 23 ở Nam Tây Nguyên lên đây phòng thủ rồi. Bọn anh là những quả đấm thép “Nam bình, Bắc phạt, Cao nguyên trấn” cơ mà. Cho nên chưa biết “mèo nào cắn mỉu nào” đâu. Mà sức cơ động bằng đường hàng không, bằng phương tiện cơ giới, Bắc Việt làm sao bằng bọn anh. Lại còn ưu thế của xe tăng, pháo binh, họ còn lâu mới đuổi kịp được. Vì vậy không việc gì phải lo lắng. Các em cứ kê cao gối mà ngủ cho ngon nhé!
Kim Ngọc lúc này mới ngập ngừng lên tiếng:
– Không biết các anh có biết không, chứ độ này dân chúng trong đồn điền bác tôi nhộn nhịp may cờ giải phóng, chuẩn bị băng-rôn khẩu hiệu, chào mừng quê hương giải phóng rầm rộ lắm. Họ còn làm gạo sấy cho mấy ổng phía bên kia nữa. Tôi nghĩ không phải bỗng dưng mà họ chuẩn bị thế đâu. Là người làm ăn kinh tế, chúng tôi chỉ mong được quốc gia che chở, để yên ổn làm ăn. Chứ cứ như thế này, muốn bình tâm cũng không bình tâm được.
Vũ Tân đế theo:
– Ngay trong thị xã mình cũng vậy. Dân chúng cũng kháo nhau chuẩn bị như trên đồn điền bác anh Kim Ngọc đấy. Không biết quốc gia có biết không hè?
Sắc mặt Lâm Hạc thoáng chùng xuống, nhưng trong giây lát anh cả quyết:
– Chuyến này chắc mấy ông Cộng định làm tới thiệt. Nhưng Chuẩn tướng Tư lệnh đã chuẩn bị đón lõng rồi. Lực lượng quốc gia cả về binh hỏa lực đã trong tư thế sẵn sàng. Hồi Mậu Thân bị động mà Quốc gia còn không ngán nữa là bây giờ. Hơn nữa sau lưng chúng ta còn người Mỹ. Có biến là họ xuất hiện ngay. Chẳng lẽ họ lại ngồi nhìn công lao đổ ra bao nhiêu năm qua ở đất này bỗng chốc tan thành mây khói ư?
Tùng Dương cười lớn:
– Cộng Sản chẳng làm được gì đâu. Dù cho đó là Sư đoàn 10, Sư đoàn 320A, Sư đoàn 316, Sư đoàn 3 Quân khu V cùng với các Trung đoàn độc lập như Trung đoàn 95B, Trung đoàn Đặc công 198, Trung đoàn Tăng Thiết giáp 273, Trung đoàn Pháo binh 40, Trung đoàn pháo phòng không 234, 593 và các Trung đoàn của Đoàn 559 thì các Trung đoàn thiện chiến của chúng ta đã được điều động áp sát các hướng tiến công của Việt cộng rồi. Chỉ còn đợi đối phương xuất đầu lộ diện, là Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trút lửa đạn xuống đầu chúng thôi.
Kim Ngọc cũng cười theo. Thế là ý đồ tập trung quân về Bắc Tây Nguyên, để đối phó với chúng ta của địch cũng đã bộc lộ rõ. Nhưng liệu đã tin được lời chúng nó hay chưa. Cần phải xin ý kiến Tham mưu trưởng Hạ Lan về việc này mới được.
Tiếng cười giòn vui vẻ của họ cứ lan xa, khiến mấy con chim chìa vôi đang bắt sâu trên cây bằng lăng bên cửa sổ hoảng sợ, bay vọt lên không trung như gặp phải cánh thợ săn đầy súng đạn.
V.Q.K







