Chiếc xe Camry đỗ ven đường. Anh con trai mở cửa bước đến:
– Chào bác! Bác cho con hỏi! Đây có phải là đất làng Hanh Cù, xã Tình Cương không ạ?
– Đúng rồi. Cháu hỏi làng ta có chuyện gì đó?
– À thưa bác, nơi này vào những năm 1966 – 1967 mẹ cháu có nhiều kỷ niệm, lúc mười ba mười bốn tuổi đi sơ tán tránh bom giặc Mỹ đánh vào Thủ đô. Người phụ nữ chạc ngoại 60 tiến về chỗ hai bác cháu cúi đầu chào rồi hỏi:
– Thưa anh! Tôi muốn hỏi làng Hanh Cù thăm nhà bác bá Sáu có người con trai tên là Hai. Anh ấy năm nay độ sáu mươi tư. Thời chiến tranh chống Mỹ tôi sơ tán tá túc ở nhà bác Sáu hai mùa hè 1966 – 1967!
– Thúy. Có phải Thúy không! Anh đây. Anh Hai mà Thúy từng theo đi chăn trâu, cắt cỏ, mò cua đánh dậm ở cánh đồng Láng Chương mùa hè 66…67.
Những năm ấy đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc bằng không quân, Đảng và Chính phủ có chính sách sơ tán trẻ em, người già của Thủ đô về những vùng an toàn ở nông thôn để tránh bom đạn. Năm 1966 làng Hanh Cù, xã Tình Cương cũng đón nhận một số bà con, theo danh sách ở nhà tôi là cháu gái 13 tuổi, có bố là bộ đội, mẹ là công nhân nhà máy điện, tên là Phạm Thanh Thúy. Một chiều tháng 6 cán bộ xã đưa hai mẹ con Thúy đến gia đình tôi, Thúy tóc phi dê người nhỏ nhắn xinh xinh. Sau lời chào hỏi, Thúy được mẹ tôi dẫn vào phòng đã thu xếp tiện cho ôn bài và ngủ nghỉ. Mẹ Thúy giới về thiệu con gái rồi chuyện trò cùng cha mẹ tôi chừng 40 phút, sau đó xin phép đạp xe sang ga Chí Chủ kịp chuyến tàu đêm xuôi Hà Nội. Bữa cơm tối dưới ánh sáng đèn dầu, Thúy hỏi tôi “Bạn học lớp mấy” – Tôi trả lời “Lớp 6 đúp năm lớp 4”. Còn Thúy học lớp 5 như vậy là kém tôi hai tuổi, dần dần trở nên thân Thúy gọi tôi anh Hai và xưng tên. Cảnh làng quê thanh bình làm Thúy thích thú. Chiều chiều Thúy theo bọn trẻ làng thả trâu, đào chuột, tát cá. Những đêm trăng chơi trận giả, kéo co, ú tìm và sinh hoạt đội, khuya về ôn bài bên cây đèn ló đặt trong ống tre không lọt sáng ra ngoài v.v…
Nhà tôi: Anh cả nhập ngũ năm 1964, chị gái đi Văn công năm 1963, tôi là út. Dịp hè ấy đúng ngày 25 tháng 7 năm 1966, máy bay Mỹ đánh bom phá cầu ngòi Me cách nhà tôi chừng 500 mét. Ngồi dưới hầm chữ A nghe máy bay gầm rú, rồi bom nổ, người kêu, chân chạy Thúy sợ run cầm cập. Trận oanh tạc làm cây cầu hư hỏng nặng, bên thôn Chế Nhuệ hai người thiệt mạng, một bị thương, thôn tôi chết hai trâu. Ngay chiều cụ Trần Thụ sáng tác bài thơ mà bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng thuộc: “Hai nhăm tháng bảy năm nay/ Ngòi Me lại bị máy bay phá cầu”.
Kỳ nghỉ trôi thật nhanh, Thúy trở về Thủ đô để vào lớp 6, tôi thì vào lớp 7 trường làng. Những ngày đầu đến lớp chiều về chăn trâu cũng thấy nhớ Thúy, cô bé Hà Nội thông minh học lớp 5 mà biết giải toán lớp 6, bọn trẻ làng cũng nhớ “con” bé tóc phi dê nhỏ nhắn xinh xinh. Cánh thằng Kim, thằng Thấu bắt đầu gán ghép tôi với Thúy như đôi lứa. Năm học có một lần Thúy viết thư, đại loại là thăm hỏi gia đình và nói Hà Nội hàng ngày thấp thỏm lo âu vì máy bay giặc Mỹ, ở trường giờ học có báo động học sinh xuống hầm trú ẩn theo hướng dẫn của giáo viên. Thúy nói luôn mang mũ rơm mà tôi bện tặng, đoạn cuối Thúy chúc anh Hai học giỏi thi đỗ lớp 7 để vào cấp 3, hẹn rằng hè này lại sơ tán nhà anh.
Làng Hanh Cù ngày xưa đây. Chỉ vào khu đất ven sông tôi nói.
Năm 1971 trận lũ lịch sử nước sông Hồng dâng cao đe dọa sạt lở, làng Hanh Cù là nguy hiểm nhất, nên chính quyền địa phương vận động sau lũ sẽ di dời và Hanh Cù đã chuyển vào đồi kiến thiết xây dựng mới. Hôm nay mùng một tháng bảy âm là ngày mất của cha anh, kia là nơi an nghỉ của cả cha và mẹ. Sáng nay từ thành phố Việt Trì về mộ thắp hương bất ngờ lại gặp Thúy vui quá, sau bao nhiêu năm rồi chắc chúng ta đều đã nên ông nên bà.
Quay lại mộ cha mẹ tôi. Thúy chắp tay kính cẩn lí nhí nói những gì đó, hai hàng nước mắt lăn dài xuống má. Làng Hanh Cù xưa bây giờ chỉ là khu đất trống được dân trồng dâu, trồng ngô khó mà nhận ra vị trí có ngôi nhà của cha mẹ tôi. Ngôi nhà gỗ sáu hàng chân, ba gian hai trái mà Thúy từng ở sơ tán hai dịp hè 1966 và 1967. Bác bá Sáu (cha mẹ tôi) chiều chuộng chăm sóc Thúy như con!
Thúy sang xe tôi, chiếc Camry theo sau về nhà anh cả bên thị xã Phú Thọ. Hôm nay chúng tôi làm giỗ bố. Trên xe cả chục lần tôi và Thúy hỏi về nhau của một thời thanh xuân, Thúy kể: Sau khi tốt nghiệp cấp 3 năm 1972 thì được sang Cộng hòa Dân chủ Đức học 4 năm theo tiêu chuẩn ưu tiên. Về nước nhận công tác tại Bộ Ngoại giao đến lúc nghỉ chế độ. Vợ chồng Thúy chỉ có một con trai làm việc ở Tổng cục Thủy sản, vừa bảo vệ xong luận án tiến sĩ. Hôm nay cháu có đi cùng mẹ, còn chồng Thúy mất năm 1999 do tai nạn giao thông!
Nhớ mùa hè năm 1967 gặp lại Thúy sau một năm mà thấy khác. Duyên dáng cởi mở bạo dạn hơn, mọi người chuyện trò không quên chúc mừng Thúy được lên lớp 7. Bọn trẻ Hanh Cù hàng ngày kéo đến tụ tập vui vẻ, Thúy thân với mấy bạn cùng trang lứa, lúc rảnh dạy nhau thêu thùa và chơi các trò dân gian như đánh chắt, ô ăn quan, nhảy nụ v.v… Cha tôi hay bắt những con cua đực to vàng bóng, cắt tí đầu chân xiên vào huyệt càng để nó không cặp cho Thúy chơi. Rồi cá cờ đuôi đỏ kiếm về thả vào lọ thủy tinh, mỗi sớm cho mấy hạt cơm Thúy thích đến nỗi đi ngủ cũng để trên giường. Và một chuyện! Một chuyện tôi còn nhớ như in. Nó găm vào trái tim không bao giờ quên đó là:
Mùa nước tháng 8 năm 1967 cánh đồng Chương mênh mông. Hôm ấy Thúy nằng nặc đòi theo tôi đi đánh dậm cua giữa trưa nắng như đổ lửa, Thúy đội cái nón cũ cùng tôi ra đồng Või. Đến đoạn bờ gẫy nước sâu ngang vai phải lội qua, lúc đầu Thúy ngần ngại nhưng không còn cách nào khác đành nhắm mắt ào xuống để tôi kéo sang. Đến rìa Või Thúy đứng trú dưới bãi sắn, còn tôi lội ra lần tìm các bờ ruộng nước ngập đến cổ, thả dậm đạp bàn đạp cho cua trong hang bò ra. Đang tiếp tục thì kẻng trên chòi gác gõ liên hồi báo động có máy bay Mỹ. Thế mà chỉ giây lát sau những cột khói đen vầng lên trên bầu trời phía thị xã Phú Thọ, tiếng bom nổ, tiếng pháo bắn, tiếng máy bay gầm rú quần thảo đến hàng chục phút, rồi bình yên trở lại. Nhìn về phía Thúy tôi thấy cánh tay hua hua cái mê nón rồi ngã lăn xuống. Không hiểu có chuyện gì, kéo dậm chạy đến. “Sao thế” tôi hét lên! Thúy mặt tái mét mắt nhắm nghiền nằm bất động, chiếc áo cẩm thạch lấm lem nhàu nhĩ hàng cúc bung ra. Cuống cuồng tôi bế xốc lên – ôi trời! Con đỉa trâu đen sì to bằng ngón tay cái chưa no máu bám chặt trên ngực Thúy, “Chắc lúc lội qua đoạn bờ gẫy con đỉa bám vào”. Theo kinh nghiệm tôi nhổ chút nước bọt, con đỉa dính vị mặn dẫy cong lên lăn tuột xuống. Bầu ngực nõn nà của Thúy, cô thiếu nữ tuổi 14 căng tròn như trái thị tứa dòng máu tươi chỗ vết cắn hình thước thợ. Theo phản xạ tự nhiên, không chút ngần ngại tôi áp sát xuống bầu ngực bậm môi mút một hơi cho hết máu độc, rồi xé miếng hồ nón dịt vào. Thúy dần dần tỉnh lại, đôi mắt trân trân đờ đẫn, hàng khuy áo vẫn toang cứ thế ôm lấy tôi khóc nức nở… Hai đứa trở về theo con đường vòng qua gò Sức – hôm ấy tôi kiếm chưa được nửa giỏ cua!
Bữa tối Thúy bỏ cơm, cha mẹ tôi lo lắng nghĩ là dính cảm do dãi nắng. Ăn xong mẹ tôi lấy đồng bạc trắng, cắt đôi quả trứng gà luộc áp vào cùng đụm tóc rối đánh gió. Nhìn thấy lá hồ còn dán trên ngực Thúy, hiểu ngay chuyện gì đã xảy ra. Mẹ gọi “Thằng Hai đâu sao lại để đỉa nó cắn con bé thế này, cho nó xuống ngâm nước phải không, có phải cảm gì đâu, nó sợ phát sốt đây này. Mày thì chết với mẹ”. Vờ như không nghe thấy, tôi sang nhà ông cậu chơi, lúc sau về Thúy đã dậy ngồi xem cha tôi thái miến ở phản ngoài hiên!
Thời gian chóng vánh đã hết kỳ nghỉ hè, bao nhiêu là chuyện, bao nhiêu là kỷ niệm ở cái làng ven sông với Thúy và bọn trẻ Hanh Cù. Tôi thì giấu kín chuyện con đỉa, còn Thúy những ngày sau nhìn tôi vẻ e ngại. Thế rồi cũng dần quên, ở thêm 10 ngày thì mẹ Thúy lên đón. Lần này mẹ Thúy ở lại nhà tôi một đêm, bữa cơm tối gọi là chia tay có canh cua và bóng bì xào miến mẹ Thúy đem lên. Tối ấy cậu tôi cũng có mặt, trong câu chuyện cậu bộc bạch nói “Thôi tác thành cho hai đứa sau này lớn lên lấy nhau, em thấy chúng nó xứng đôi – hữu duyên tương ngộ là thế ba bác ạ”. Mặt Thúy đỏ bừng, còn tôi ái ngại với câu nói của cậu. Tối bọn trẻ đồng lứa đến chơi để mai Thúy về Hà Nội. Lúc vào dọn dẹp bàn học thu mấy thứ đồ cá nhân Thúy gọi tôi: “Anh Hai lại đây Thúy nhờ cái này”. Tôi nói “Anh đây Thúy nhờ gì nào”. Tần ngần một lát Thúy nhúi vào tay tôi chiếc hộp nhỏ đựng cái bút máy kim tinh rồi nhỏ nhẹ “Thúy tặng anh Hai cái bút mà mẹ mang lên cho Thúy, chúc anh Hai luôn học giỏi và viết thư cho Thúy. Còn chuyện Thúy bị đỉa cắn anh Hai không được nói chuyện đâu đấy…”. Đêm ấy tôi thao thức và chắc Thúy cũng thế. Sáng sớm hôm sau cả nhà thức dậy lúc 3 giờ, cha tôi gói ghém cẩn thận ít trứng gà làm quà. Tôi tặng Thúy cái đèn ló tự làm bằng ống tre. Thúy nhìn tôi rươm rướm nước mắt nói “Em cảm ơn anh Hai, em luôn nhớ hai bác và anh”. Cái từ em Thúy xưng thay tên đã găm mãi vào lòng tôi từ đấy. cuộc chia tay lúc trời chưa sáng, Thúy và mẹ sang ga kịp chuyến tàu xuôi Hà Nội.
52 năm không một tin tức ai cũng theo vòng xoáy của thời gian. Tốt nghiệp Đại học tôi được về Phú Thọ nhận công tác tại Ty Xây dựng, lấy vợ sinh con rồi mấy năm du học bên trời Âu. Việc xã hội việc gia đình cuốn như bồi băng lúc dềnh lên lúc hút xuống chả có tâm trí nhớ về thời xa vắng.
Trên bàn thờ cha mẹ ở nhà bác cả, Thúy đặt lên cái túi tràng hải. Phải rồi cái túi bé tẹo của mẹ tôi tặng Thúy vào cuối tháng 8 năm 1967, lần mà Thúy về để vào lớp 7, trong túi đựng mười đồng 5 xu mới tinh cùng sợi xà tích bằng bạc. Mười đồng tiền như là phát vốn để khỏe mạnh học giỏi, còn sợi dây xà tích đeo cổ để tránh gió và khỏe mạnh. Rồi còn một ý sâu sắc nữa của mẹ là mong Thúy sau này trở lại làm con của gia đình. Kỷ vật ấy Thúy còn giữ nguyên vẹn đến hôm nay, Thúy gửi vọng lại mẹ mà chính tôi cũng thấy ngỡ ngàng. Hơn 50 năm Thúy cô gái Hà Nội bé nhỏ ngày nào, giờ hiện hữu với mái tóc điểm bạc và khuôn mặt phúc hậu. Đôi mắt nhìn xa xăm rồi quay lại ở tôi đượm nét buồn mà anh trai tôi cũng chưa hiểu hết.
Bến Đá thị xã Phú Thọ một chiều tháng tám chứng kiến cuộc chia tay của hai người dưới nắng thu vàng nhạt!
“Tạm biệt anh hẹn ngày gặp lại” Thúy nói nhỏ đủ tôi nghe!
T.A.N





