Nhân ngày thương binh liệt sỹ, đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng đến thăm Trung tâm điều dưỡng người có công khu vực Tây Bắc (thời Chống Mỹ có mật danh là K2), trưởng đoàn, tướng Nguyễn Quang gặp bạn, thương binh Trần Kiên Cường ngồi xe lăn, tay bắt mặt mừng:
– Cách đây 40 năm, chúng mình 18 tuổi, tràn đầy lòng yêu nước xung phong nhập ngũ và lên biên giới Hà Tuyên. Những trận chiến đấu giữ chốt vô cùng khốc liệt, mày bị đạn pháo giặc, chấn thương cột sống suýt chết. Hiện mày tuy liệt hai chân nhưng may mà “chân giữa” vẫn ngon, vẫn tăng dân số.
Cường mắt ứa lệ, nắm chặt tay Quang, thấy sếp gọi “mày” thân mật nên xưng “tao” cho gần gũi, đượm đầy chất lính:
– Năm đó, tao 20 tuổi, nhận thấy phần đời còn lại phải gắn liền với xe lăn. Tao bi quan, sống vô tích sự thì sống làm gì, thà hy sinh cho vẻ vang. Tao trách mày cứu tao thoát chết! Nhưng… mãi mãi tao mang ơn mày, không sợ hy sinh, xông vào bão lửa đạn thù, cứu tao.
Tướng Nguyễn Quang cúi xuống ôm chặt lấy thằng bạn chiến đấu ngồi xe lăn. Hai người lính nghẹn ngào ướt lệ.
***
Gặp Nguyễn Quang làm Cường nhớ lại những ngày sau khi bị thương vô cùng vất vả. Mặc dù Cường chạy chữa khắp các bệnh viện nhưng bất lực với vết thương oái oăm này. Cuối cùng Cường buồn bã xin về điều dưỡng tại gia đình. Quê hương đất cằn sỏi đá, nắng hạn, mưa lụt, nghèo khó, giang rộng đôi tay đón người con thương tật trở về. Tình cảm xóm làng dào dạt, người thân đầm ấm, anh nguôi ngoai một phần mặc cảm, chán chường. Hàng ngày anh hết ngồi lại nằm đọc sách báo, nghe đài mãi nhàm chán, mệt mỏi. Anh tập viết truyện, sáng tác thơ nhưng được vài dòng là hết cảm hứng, cạn chữ vì đau đầu, mỏi mệt rã rời. Nỗi đau thương tật không lớn bằng sự dằn vặt, giằng xé tinh thần. Bố mất lâu rồi, bầm ốm đau, hai đứa em đang tuổi ăn tuổi học. Mọi tiện nghi sinh hoạt gia đình thiếu thốn, đồ dùng lạc hậu. Cường gặp rất nhiều khó khăn khi tắm rửa, đại tiểu tiện. Rồi em trai đi công nhân, em gái đi học xa nhà, bầm làm ruộng khoán vất vả, gia cảnh neo đơn, thiếu thốn. Bầm mỗi ngày một già yếu, mệt mỏi, nhọc nhằn, quá sức chăm bế anh. Đôi lần bầm ngã xõng xoài, làm vết thương Cường thêm đau đớn. Khi trái gió trở trời, thương tật hoành hành dữ dội, anh phải cấp cứu nằm viện, thêm gánh nặng cho bầm. Người thân, làng xóm tận tình giúp đỡ bầm nhưng không thể kéo dài mãi được. Thương bầm già yếu, vất vả, nghèo khó, anh xin vào sinh sống tại Trung tâm điều dưỡng người có công K2.
***
Sau một thời gian, Cường sinh sống tại K2, trong vòng tay tình cảm đồng đội, cựu chiến binh cùng cảnh thương tật, trong tình yêu thương hết mình của đội ngũ cán bộ, nhân viên điều dưỡng làm cho tinh thần anh thoải mái, sức khỏe tốt hơn, thương tật giảm bớt. Cường chăn đơn, gối chiếc, đêm thâu năm canh trằn trọc không ngủ được, suy nghĩ về bản thân, tự khuyên mình lấy vợ. Vài năm sau được trời nhủ lòng thương, cho anh một mái ấm gia đình với người vợ hiền, khá xinh và cậu con trai kháu khỉnh. Anh vừa mỉm cười với hạnh phúc nhỏ nhoi thì người vợ thân yêu bị bệnh hiểm nghèo qua đời. Anh lại lâm vào cảnh gà trống nuôi con. Dù được hưởng tiền trợ cấp thương tật khá cao nhưng giá cả thị trường đắt đỏ, anh không đủ tiền để trang trải hai miệng ăn, thuốc men. Cường làm nhiều việc vất vả kiếm thêm đồng tiền bát gạo. Tự cứu mình trước khi trời cứu!. Cường “tranh thủ” sự ưu tiên cho thương binh, anh đi mua lương thực, thực phẩm giúp cán bộ, được họ biếu chút tiền “xếp hàng”. Anh “lợi dụng” chính sách ưu tiên thương binh được mua vé ô tô, tàu hỏa giá rẻ, sau đó anh bán lại cho hành khách với giá cao hơn chút xíu. Hàng ngày bốn giờ sáng, anh đã có mặt ở bến xe, nhà ga, vật vã xếp hàng mua vé, cơm nước qua bữa để dành lại chút tiền ít ỏi. Nửa đêm, chuyến tàu cuối cùng trong ngày rầm rầm chuyển bánh là lúc anh mệt mỏi trở về nhà. Đôi tay Cường kéo bánh xe lăn phồng rộp, bỏng dát, mỏi nhừ, mồ hôi đầm đìa, bốc mùi chua nồng bụi bẩn. Vết thương đau khủng khiếp như cắt đứt cột sống, đôi chân tê tái lạnh buốt, anh cảm thấy quãng đường về nhà, chừng bảy cây số trở thành quá dài, hun hút như vô tận. Giờ này thằng con nhớ bố, khóc gào xé lòng làm cô Lan hàng xóm chăm sóc nó cả ngày vất vả thêm. Bất ngờ, chiếc xe tải phì phò, ì ạch, lê lết lăn bánh trên đường, ánh đèn pha mờ nhạt. Cường xoay xe lăn, chắn ngang mặt đường, mắt chừng chừng như lửa cháy. Bác tài bình tĩnh xuống xe nhẹ nhàng hỏi:
– Anh thương binh đêm hôm lặn lội, đi về đâu? Gạch ngói đầy thùng, ca bin chật níc ba người, không còn chỗ cho anh đi nhờ.
– Không cần đi xe, tao cần tiền!. – Cường nói giọng căng thẳng, lạnh lùng, toát lên mùi “dao búa”.
Bác tài xót xa nhìn thân thể gầy nhom, mặt hốc hác nhem nhuốc nên thật lòng muốn giúp anh thương binh khó khổ. Mặt khác bác tài lo xa, thương binh thường có mìn, lựu đạn, bất cần đời, làm liều nên ân cần, mềm mỏng hỏi thăm, chia sẻ:
– Anh cần bao nhiêu tiền, em giúp?
Cường thoáng nhớ đến số tiền vay nợ, bệnh tật của mình, của con đang là gánh nặng tài chính nhưng nghe bác tài nói cảm thông nên hạ giọng:
– Tùy tâm, giúp đây… càng nhiều càng tốt!.
Ánh đèn ô tô mờ nhạt, bụi đường loang loáng bốc lên. Bác tài vừa lấy tiền, vừa cảm thấy người thương binh này quen quen mà chưa nghĩ ra ai. Cường nhận ra bác tài, hình như… đã từng cùng nhau giữ chốt biên giới.
– Anh Công phải không? Em là Cường lính chốt 400, Hà Tuyên đây.
-Tao là Công, lính trinh sát. Sao mày lại đi trấn lột tiền? – Công thương Cường nhưng vẫn bực mình, hét to.
– Vợ chết, nuôi con thơ dại ốm yếu, khó khăn, thiếu thốn quá nên em làm liều. – Cường tỏ ra hối hận, giọng trìm lắng trong tiếng nấc.
Công càng thương Cường thì càng nghiêm khắc. Tính cách người lính đã từng tham gia chiến trận sống chết với quân thù, toát ra từ giọng nói đanh thép:
– Mày luôn luôn ghi nhớ, mày là cựu chiến binh, mày là bộ đội Cụ Hồ!. Mày là “Thương binh tàn nhưng không phế!”. Mày phải làm việc lương thiện! Mày kiếm đồng tiền chân chính!. Dù khó khổ hơn thế nữa, mày không được làm như vậy!. Rõ chưa?
– Vâng… anh. Bốn giờ sáng em trốn con, cả ngày nhờ cô Lan chăm sóc nó. Em lăn xe đi xếp hàng mua vé ô tô, tàu hỏa, vật vã, đói khát, đến bây giờ chỉ được vài đồng bạc. Em lấy tiền đâu mà mua thuốc? Chuột leo cùng sào!. Biết làm gì khi em không có đôi chân… Em… mới… thử lần đầu… thì… gặp anh. – Cường nước mắt tràn ra, giọng chìm dần trong tiếng nấc.
– Anh hiểu gia cảnh của em. Anh cho em số tiền này.
Cường nhẹ nhàng ẩy tay Công:
– Thôi ạ. Em cảm ơn anh. Em không dám nhận tiền của anh.
– Chiều mai anh đến thăm hai bố con em. – Công nghẹn ngào, cúi xuống ôm ghì lấy thằng em.
Ô tô gầm lên, ì ạch, nặng nề lăn bánh. Công nghĩ đầy đầu, nát óc: “Nó tự kiếm tiền bằng cách xếp hàng mua vé tàu xe, thực phẩm là việc bất đắc dĩ, cực chẳng đã. Nó chặn xe xin tiền là bế tắc, hết cách! Cho Cường tiền, tiêu hết lại cho nữa sao? Đâu có thể cho tiền suốt đời? Mà hoàn cảnh của Cường thì như vậy. Cường tự trọng, nhận tiền lần đầu, có thể lần sau không lấy?”. Công càng nghĩ bao nhiêu càng xót xa thương đồng đội bấy nhiêu, mắt nhòe lệ.
Đêm khuya thanh vắng, tiếng chó sủa ông ổng cô đơn vọng lại. Canh bốn, canh năm chú trống choai vươn cổ lên tập gáy eo óc như tắc nghẹn. Trời sắp sáng, Cường suốt đêm không chợp mắt, mệt mỏi vô cùng. Anh dằn vặt, giằng xé tâm can, đau đầu nát óc suy nghĩ về ngày tháng đã qua và những ngày chưa tới. Nghĩ về những việc mình đã làm, ảnh hưởng xấu đến uy tín danh dự của người cựu chiến binh, thương binh. Cường vò nát lương tâm: “Giá như đôi chân còn chắc, sức khỏe còn tốt thì mình nắng mưa cày cuốc với bầm, tuy không giàu nhưng no cơm, ấm cật. Mình đi buôn bán có thể kiếm được nhiều tiền. Hiện liệt hai chân, thì tại sao mình mặc quần áo lính, đeo huy hiệu cựu chiến binh có chân dung Bác Hồ, huy hiệu thương binh đỏ rực mà ngày ngày lại chầu trực mua lương thực, thực phẩm “giúp họ” để lấy tiền? Sao lại chen nhau mua vé ô tô, tàu hỏa giá ưu tiên, để bán giá cao? Sao lại đi chặn xe “xin tiền”? Những việc làm đê hèn! Trước đây mình vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, kiên cường anh dũng chiến đấu sẵn sàng hy sinh bảo vệ biên giới, sao bây giờ không thắng được đói nghèo?”. Cường cảm thấy xấu hổ và nhục nhã.
Công đến chơi, không chỉ giúp Cường mà còn bàn cách thức làm ăn: “Mày mở quán nhỏ, bán ngói lợp nhà. Tao cho tiền công vận chuyển”. Tuần sau Cường vay tiền, tất tưởi mở quán bán ngói. Công chở ngói đến, Cường bán và được hưởng tiền lãi. Anh say mê bán ngói, có chút tiền nuôi con ăn học, thuốc men. Dần dần Cường có đồng ăn, đồng để, kinh tế thấm khá hơn. Anh sẵn sàng giúp đỡ những thương bệnh binh còn khó khăn để họ có động lực vươn lên trong cuộc sống. Cường không những giúp đỡ vật chất mà còn tạo việc làm cho những thương bệnh binh nhẹ. Họ tham gia tiếp thị bán ngói, bê bưng ngói, tăng thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống bản thân và gia đình.
Có người rủ rê, lôi kéo Cường tham gia khiếu kiện đông người, “ăn trực, nằm chờ đấu tranh” trước cổng cơ quan công sở xã, huyện, tỉnh. Họ hứa bồi dưỡng nhiều tiền cho anh. Cường ngồi thẳng lưng kiêu hùng từ chối, tay giơ cao thuyết phục như chém vào mặt họ: “Tôi đi chiến đấu bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Bản chất người lính là dũng cảm đấu tranh chống tiêu cực, bảo vệ cái đúng nhưng phải đúng nơi, đúng chỗ và đúng việc. Tôi không bao giờ đi khiếu kiện thuê để kiếm đồng tiền nhơ bẩn”. Hơn nữa anh tích cực khuyên nhủ thương bệnh binh K2 không được đi khiếu kiện thuê lấy tiền.
Thương cảnh “gà trống nuôi con” kéo dài đằng đẵng mấy năm, cô Lan hằng ngày ngoài công việc làm điều dưỡng ở Trung tâm còn gánh trách nhiệm, tình thương với bố con Cường. Nhiều đêm khuya vắng, Lan tận tình chăm sóc con trai Cường ăn no, ngủ ngon mà còn quan tâm bát cơm nóng ấm, chiếc áo sạch sẽ thơm tho cho anh. Đặc biệt những ngày vết thương Cường tái phát, bệnh tật, ốm đau được Lan chăm chút chu đáo và động viên tinh thần. Tình cảm của hai người ngày càng gần gũi, yêu thương. Đôi bạn bén duyên, đồng ý nên vợ thành chồng. Đám cưới Cường với Lan rất giản dị nhưng rất nhiều cảm xúc. Bốn năm sau anh chị có thêm hai mặt con, cuộc sống tuy vất vả hơn nhưng tràn ngập tiếng cười. Gia đình năm người, cần tiền nhiều hơn để lo miếng ăn, thuốc men, manh áo, học hành. Vợ chồng anh chuyển sang kinh doanh ngói cao cấp, thiết bị vệ sinh chất lượng tốt, có uy tín, lợi nhuận thu được ngày càng nhiều hơn.
Cường có thú vui, đam mê trồng hoa và cây cảnh. Anh xin, mua cây vạn tuế, cây si, cây hoa… về chăm sóc, uốn cành, tạo dáng bon sai đẹp như một thú “chơi”. Cường ngồi xe lăn, vươn cánh tay tỉa cành, uốn cong, tạo dáng bonsai cho cây cảnh rất vất vả, mỏi mệt và đau lưng. Không phụ lòng anh, xung quanh nhà ngập tràn chậu hoa cây cảnh, bốn mùa rực rỡ sắc màu, ngát thơm. May mắn gặp khách thích chơi, đam mê cây cảnh, gạ mua, được giá, anh bán liền. Mỗi “thương vụ” như thế, anh được lời lãi đôi ba triệu đồng. Sau này anh mua hoa lan “đột biến”, chăm sóc mầm giống tốt cũng kiếm được tiền triệu. Vợ chồng anh có tiền tu sửa nhà cửa, mua sắm đồ dùng, nuôi ba con ăn học đủ đầy và tiến bộ. Anh mua xe lăn chạy bằng động cơ điện rất thuận lợi cho việc đi lại. Cường giúp đỡ đồng đội ở K2 nhiều hơn. Những gia đình ở K2 được anh cho giống, hướng dẫn chăm sóc, tạo nên một xóm chơi hoa, cây cảnh như một công viên mi ni xanh sạch đẹp.
Hằng ngày Cường bán ngói, thiết bị vệ sinh, chăm sóc hoa cây cảnh. Anh tranh thủ và say mê đọc sách báo mà còn làm thơ, viết truyện, tin, bài gửi tòa soạn báo, tạp chí. Sau rất nhiều thất bại, Cường nhớ lời anh Công: “Mày nên học Paven viết văn trên giường bệnh”, dần dà anh cũng có những thành công. Anh trở thành cộng tác viên của một số báo, tạp chí. Anh là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật huyện, là nguồn động viên, tăng thêm niềm tin, sức khỏe. Những ngày thời tiết tốt, anh nằm ngửa lái xe, rong ruổi khắp nơi để lấy tin tức, sự kiện, gặp gỡ nhân chứng, những tấm gương thương bệnh binh lao động cần cù, chăm chỉ lao động phát triển kinh tế, thoát nghèo. Những ngày đầu anh sử dụng xe lăn điện chưa quen, tuy chạy nhanh không tốn sức khỏe nhưng rất nguy hiểm. Nhiều lần anh đi xa, lúc về trời mưa đường trơn trượt làm xe đổ, ngã, suýt bị thương lần nữa. Nhiều đêm, Cường ôm gối rầu lòng, tưởng nhớ những thằng bạn dũng cảm chiến đấu, hi sinh bảo vệ biên giới Tổ quốc, tưởng như hương hồn nó trở về trong tiếng gió rì rào trên tán lá hàng cây. Anh trải lòng viết ra những bài thơ đồng đội, những câu chuyện máu lửa và yêu thương như bản anh hùng ca. Ngắm chân dung người vợ quá cố, nhìn những đứa con đang tuổi lớn, tuổi ăn, tuổi học làm anh chạnh lòng buồn vui xen lẫn tự hào. Cường tiếp tục viết, mỗi bài thơ, mỗi truyện ngắn, mỗi bài báo đều là những trang ký ức sâu đậm về cuộc đời, quê hương, tình yêu, bạn bè, đồng đội. Tiền nhuận bút tuy không nhiều nhưng là món quà tinh thần động viên anh tiếp tục sáng tác, bám sát và phản ánh chân thực thực tiễn cuộc sống sinh động. Cường là hội viên tích cực, có nhiều tác phẩm hay và giàu tính nhân văn được Hội Văn học Nghệ thuật huyện, tỉnh, trung ương tặng thưởng giấy khen, bằng khen.
Cường tự nhắc mình, đã viết truyện, viết tin bài đăng trên báo, tạp chí tuyên truyền cho mọi người. Sao mình không trực tiếp truyền lửa, lòng yêu nước cho thế hệ trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường? Cầu sao được đấy, trường THCS Xuân Liên mời Cường nói chuyện ngoại khóa môn lịch sử về chiến thắng Điện Biên Phủ cho học sinh lớp 9.
Trước hàng trăm học sinh và giáo viên, Cường say sưa kể: “Bộ đội ta gan dạ, anh dũng đánh giặc Pháp ở cánh đồng Mường Thanh. Nhiều trận đánh rất ác liệt, có những khoảnh khắc oai hùng. Trận Mường Pồn đang diễn ra ác liệt. Quân Pháp phản công dữ dội, khẩu súng trung liên của đồng chí Chu Văn Pù chưa chọn được chỗ nào cao để đặt hai càng súng lên bắn bọn chúng. Chiến sĩ Bế Văn Đàn tuy bị thương nhưng nhanh chóng lao đến, cầm hai càng súng đặt lên vai mình cho đồng chí Pù bắn, tiêu diệt quân thù”.
Kể đến đây, học sinh Chiến lên sân khấu, đóng vai Bế Văn Đàn, nâng cái gậy gỗ của Cường, coi như là khẩu súng máy, cho anh bắn. Cường vung mạnh cánh tay, hét to vang dội: “Pằng, pằng… pằng …”. Quân ta chiến thắng, tiêu diệt, bắt sống hàng chục tên lính Pháp nhưng Chiến – anh “Bế Văn Đàn”- trúng đạn địch, nằm bất tỉnh, rồi hy sinh. Gần trăm học sinh ngồi im phăng phắc, nghe câu chuyện anh kể rất hấp dẫn và xúc động. Sân truờng rộn vang tiếng cười, vỗ tay hân hoan mừng chiến thắng rung động cả hàng cây nhưng có nhiều bạn khóc thút thít, thầy cô giáo mắt đỏ hoe. “Chiến sĩ Bế Văn Đàn sinh năm 1931, người dân tộc Tày, quê Phục Hòa, Cao Bằng đã anh dũng hi sinh anh dũng, khi tuổi anh chưa tròn 22 mùa xuân”.- Giọng Cường trầm xuống.
Hằng năm nhân ngày 22 tháng 12, trường THPT Phúc Hậu mời Cường nói chuyện cho học sinh, giáo viên về truyền thống anh hùng của Quân đội ta, đặc biệt là về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc. Trước hàng trăm học sinh và thầy cô giáo, anh tự hào kể về bộ đội ta gian khổ, vất vả đào hầm hào, xây công sự trên núi đá. Cường xúc động, nhớ đến đồng đội giữ chốt, đói ăn, khát nước, bị thương, hy sinh “coi cái chết nhẹ như lông hồng”. Anh hào hứng diễn thuyết: “Bị địch bao vây chốt, quân ta không tiếp viện được lương thực, thực phẩm, có những ngày bộ đội ăn cơm sấy khô, uống nước suối, thậm chí phải ăn cả lá rừng, chẽo, nhái để sống và đánh địch. Pháo giặc trút đạn xuống chốt như mưa lửa, đá núi nóng bỏng hoá thành vôi. Lũ giặc như đàn kiến xông lên chiếm chốt, bắn loạn xạ như vãi cát. Quân ta thề “Sống bám đá – đánh giặc. Chết hóa đá – bất tử”. Quân ta nã từng loạt đạn căm thù vào lũ cướp nước, chúng chết như ngả rạ, những tên sống sót hốt hoảng tháo chạy như đàn vịt. Chẳng may, chú bị thương. Chú tiếc là không được tham gia chiến đấu lâu hơn để bảo vệ biên giới Tổ quốc”.
Hàng trăm học sinh ngồi im phăng phắc, ngót nghìn con mắt kính phục nhìn đổ về đôi chân lủng lẳng của Cường. Anh nói chuyện với học sinh, giáo viên nhiều trường và nhận được nhiều tình cảm trân quý, anh cảm thấy tự hào, sảng khoái tinh thần. Thời gian trôi mau, mặc dù Cường tuổi đã cao, tóc muối tiêu, lên chức ông nội nhưng học sinh, thầy cô giáo, nhân dân luôn gọi là “Anh thương binh K2”.
Hôm ấy, trời nhập nhoạng tối. Mây đen, sấm sét ùng oàng, lóe sáng, sắp mưa. Cường nghe điện thoại xong,vội vàng lăn xe ra ngõ, lao vút như tên bắn. Lan gọi với theo:
– Anh đi đâu?.
– Có việc… nguy hiểm chết người!. -Tiếng Cường vọng lại.
Lan đạp xe đuổi theo chồng như một cuộc đua. Cường vừa tới đồi Bẹt, nhập nhòe ánh đuốc, nghe tiếng quát to:
– Mày không trả tiền thì chúng tao đốt nhà.
– Nhiều thế, em lấy tiền đâu mà trả. Cho em khất đến lần sau. – Rõ tiếng cô Nguyệt van xin.
Ánh chớp loé sáng, một lũ “đầu gấu” đòi nợ thuê, cởi trần xăm xổ khắp người. Đứa kéo tóc, đứa cầm đuốc dí sát mặt Nguyệt. Xe lăn ngả nghiêng, suýt đổ nhưng Cường kịp đến nơi.
– Dừng lại! Lựu đạn đây! Muốn chết cả lũ không? – Cường gầm lên, giơ cao nắm đấm.
Lũ đòi nợ thuê mặt hầm hố, đen xì chột dạ nhưng vẫn lớn tiếng:
– Ông Cường! Có tiền trả thay con Nguyệt không?
– Chúng mày còn lương tâm không? Nguyệt là vợ liệt sĩ Mạnh – đồng đội của tao. Bao nhiêu tao trả hết. – Cường rướn người lên, hét to.
– Anh Cường, năm ngoái em sửa lại nhà, có vay tiền của họ với lãi suất cao. – Nguyệt sụt xùi.
Lan đến kịp thời và an ủi: “Vợ chồng em giúp chị”.
Gia đình Cường ở trong khu tập thể của Trung tâm K2 nên có nhiều điều kiện gần gũi, chia sẻ buồn vui với đồng đội cùng cảnh ngộ. Anh em Trung tâm bầu Cường làm chủ tịch Hội đồng thương bệnh binh. Hội đồng là cầu nối giữa các đồng chí thương bệnh binh với nhau, giữa thương bệnh binh với lãnh đạo Trung tâm. Gần 20 năm nay, với cương vị chủ tịch hội đồng, anh nói đi đôi với việc làm, luôn luôn gương mẫu và động viên khuyên nhủ anh em thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những quy định của Trung tâm. Cường luôn luôn cầu thị, lắng nghe, tìm hiểu những tâm tư nguyện vọng của đồng đội. Anh sẵn sàng bảo vệ, thường xuyên giám sát mọi quyền lợi, chính sách, chế độ của anh em thương bệnh binh sao cho đầy đủ, rõ ràng, minh bạch. Anh thường nói với anh em thương bệnh binh: “Ngày xưa chiến trận gian nan, vất vả, hy sinh máu xương, chúng mình còn biết chia sẻ, đoàn kết, chung lòng cùng nhau để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bây giờ khó khăn, thiếu thốn đã là gì so với thời đó, chúng ta càng phải yêu thương nhau hơn, phải có trách nhiệm, hết lòng chung sức giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất”. Nói đi đôi với làm, anh giúp thương bệnh binh yến gạo, mớ rau và bảo ban nhau như anh em ruột thịt. Từ đó Trung tâm hết người nghiện morphin; không còn ai đi chặn xe xin tiền; bỏ hẳn việc đi buôn chè, thuốc lá, nhân sâm, quế chi, hoa hồi, hàng hóa Trung Quốc. Hằng năm tập thể Trung tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được cấp trên ghi nhận và khen thưởng là có phần đóng góp không nhỏ của anh. Cựu chiến binh, thương binh Trần Kiên Cường được tôn vinh là tấm gương sáng, là người tốt làm việc tốt, thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và anh được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen các cấp. Ngày ngày vườn hoa cây cảnh nhà anh luôn rộn tiếng cười vui của bầy trẻ thơ nô đùa trong ánh nắng ban mai.
Ngả chiều non nắng, bỗng có nhiều tiếng kêu thất thanh:
– Có người chết đuối nước! Thằng Bình… Thằng bình con cô Nguyệt…
Mọi người chạy đổ xô về hồ nước. Lũ trẻ áo quần ướt sũng, hốt hoảng, đua nhau thanh minh:
– Chúng cháu tập bơi, thằng Bình con cô Nguyệt, sa chân xuống chỗ nước sâu, giã gạo tí tõm…
– Đúng lúc ấy, bác Cường đến kịp thời. Bác lao cả xe xuống nước… cứu Bình!
– Bác Cường bơi giỏi quá, lúc chìm lúc nổi, dìu díu Bình bấu víu vào xe lăn.
– Chúng cháu cầm cây,… kéo bác Cường và Bình lên bờ.
Bình miệng phun nước phì phì, mặt không còn giọt máu. Cường nằm sấp, nghe thấy cả nhưng không thể đứng lên được. Mấy người kéo chiếc xe lăn lên bờ. Hai ông bế Cường ngồi vào xe lăn.
– Sao liều thế anh Cường? Thương tật làm sao mà cứu cháu Bình đuối nước được.
– Tôi phải cứu cháu vì nó là giọt máu để lại của Mạnh, là nguồn an ủi, động viên suốt đời của Nguyệt. Nếu tôi có mình nào cũng không sao, miễn là cứu được cháu. – Cường ngập ngừng trong hơi thở mệt nhọc.
Lan chạy đến nơi, hết hồn, hết vía, ôm chầm lấy chồng, nước mắt tràn ra…
Đ.V.H








