Đầu những năm 60 ở của thế kỷ Hai mươi, ở quê tôi rộ lên phong trào trồng cây. Khi ấy, thanh niên trai tráng ra mặt trận cả, ở lại hậu phương chỉ còn các cụ già, phụ nữ và trẻ con. Chị em có phong trào “Phụ nữ ba đảm đang”, thanh niên có phong trào “Ba sẵn sàng” còn các cụ có phong trào trồng cây. Chúng tôi lúc ấy còn nhỏ nên cứ theo người lớn gọi là hàng cây “các cụ”. Khắp các đường chính trong làng đều có hàng cây các cụ và toàn bộ trồng nhãn. Đường làng rộng và là đường đất, ao, cừ nhiều nên những cây nhãn lớn nhanh, chẳng mấy chốc ra hoa kết trái. Bọn học sinh chúng tôi hay rình khi vắng người lớn thì vặt nhãn ăn. Thực lòng chả mấy khi đợi được nhãn già, nhãn ngọt. Đa số nhãn còn non, hạt còn trắng nên chỉ có một tý cùi nhàn nhạt. Những hàng nhãn trên đường làng xanh tốt mang lại bóng mát và vẻ đẹp cho làng quê. Đêm trăng, đám trẻ chúng tôi ra sân đình, sân chùa, đường làng chơi trốn tìm thường mượn tán nhãn làm nơi ẩn nấp. Ấy thế mà những hàng nhãn “các cụ” chỉ tồn tại khoảng hai mươi năm rồi mất dần và mất tiệt. Thật may, nhà tôi còn một cây nhãn trong những cây nhãn “các cụ” khi ấy.
Năm ấy, bố tôi đi chiến trường, ông nội tôi trong tổ các cụ nên trực tiếp tham gia trồng cây. Mép đường làng được chia đoạn đánh dấu để các cụ đào hố trồng nhãn. Hôm ấy, chiều muộn ông tôi mới về nhà và mang theo một cây nhãn cao khoảng hơn một mét, thân chỉ mới bằng ngón tay nhưng rất thẳng. Ông tôi bảo các cụ trồng còn thừa cây này và cho bác Văn (bác Văn là anh ruột mẹ tôi), nhưng do vườn hẹp, bác Văn để cho ông tôi mang về trồng. Sáng hôm sau, tôi cùng mấy anh con nhà bác hì hụi đào hố, lót phân chuồng rồi trồng cây nhãn theo sự chỉ dẫn của ông. Thấm thoắt cây nhãn cao vượt đầu người và cứ thế lớn trong sự an toàn tuyệt đối cạnh sân nhà. Khi tôi rời quê hương lên miền núi Hòa Bình công tác thì cây nhãn đã được hơn mười năm tuổi, đã ra hoa kết trái. Tới nay, nếu tính từ khi chúng tôi trồng, thì cây nhãn đã có tuổi gần 60 năm. Vốn là một cây thẳng từ nhỏ, nên nay đo từ gốc đến chỗ phân nhánh cao khoảng ba mét, thân gần hai người ôm, cành lá sum suê che rợp khoảng sân trước nhà. Cả làng Văn Nội, nay là các tổ dân phố từ số 1-5 phường Phú Lương chỉ còn có cây nhãn “các cụ” của nhà tôi.
Từ sân đất, đến sân gạch, từ sân lát gạch chỉ, đến sân lát gạch bát, từ gạch bát vuông 20×20 đến các cỡ lớn hơn và giờ lát gạch đáy giếng 50×50, vị chi cũng đã 4 lần sân thay gạch, lớp sau chồng lớp trước. Mỗi lần lát gạch mới là một lần nâng cốt sân cao lên, từ đó gốc cây nhãn cũng được tôn cao ngày thêm vững chắc. Từ trải nghiệm này, tôi mới nghĩ đến việc các nhà khảo cổ học khai quật các điểm di tích để xác định niên đại của vật liệu, từ đó tìm ra niên đại di tích là vô cùng chính xác và thật thú vị.
Cả làng còn một cây nhãn cổ thụ cao và đẹp đó là cây nhãn nhà tôi. Cây nhãn có từ phong trào các cụ trồng cây giữa thế kỷ hai mươi. Cây nhãn mang kỷ niệm của ông nội và anh em chúng tôi được tự tay đào hố lót phân và trồng xuống góc sân nhà mình. Nay cây nhãn rợp chùm bóng mát.
Mỗi khi về thăm nhà, tôi thường quét lá của cây nhãn rụng đầy sân. Và có lẽ hàng năm mỗi dịp tết đến là dịp tôi được ở nhà với ông bà, bố mẹ lâu nhất nên cũng được/phải quét lá nhãn nhiều nhất. Cứ như thế từ tuổi ngoài ba mươi cho đến ngoài năm mươi, từ khi còn ông bà nội đến khi ông bà nội về với tổ tiên, rồi mẹ tôi cũng theo ông bà nội… tôi lại về với bố và lại tiếp tục quét lá của cây nhãn cổ thụ rụng xuống sân nhà mình. Quả thực cây nhãn thì cổ thụ, sân nhà thì rộng mà cứ quét luôn thì cũng rất mỏi tay, mỏi người, nhất là khi cái tuổi của mình đã là các cụ. Trước đây ở quê tôi, người 50 tuổi là đàn ông ra đình làm thủ tục lên cụ, đàn bà ra chùa đi quy. Nay tuổi thọ bình quân cao lên, đời sống khấm khá, 50 tuổi còn trẻ nên làn tôi tăng tuổi đàn ông 52 mới lên cụ!
Thường lệ, năm nào cũng vậy, xong việc cơ quan, tôi lại về quê đón giao thừa và ăn tết ở quê. Sáng mồng Hai, vợ và các con, cháu tôi mới từ Tp. Hòa Bình xuống chúc tết ông bà, người thân, sau đó cả gia đình nhỏ của tôi mới ngược Hòa Bình để hôm sau đi tết quê ngoại ở phố Sấu – Yên Thủy.
Đã bao lần quét lá nhãn trong tâm thức bâng khuâng, thế mà cho đến sáng sớm Mồng Một Tết năm Ất Mùi (2015), trong khi đang quét lá nhãn, tôi mới bật ra tứ thơ và vội vàng khai bút:
VỀ QUÊ
Về quê
nhà thoáng
sân rộng
vào ra bạn với khí trời
Cây nhãn nhà mình đang mùa thay lá
vừa quét, lại quét
tiếng chổi như cào
xước không gian
kéo mùa
đi
Đúng lúc cái bực đến
cây như khẽ bảo:
“nhà ống giữa phố
thèm chiếc lá rụng
đâu có?
và có những chiếc lá
khi rụng
lại không biết đậu về đâu!”
Tiếng chổi tre hóa cung đàn
ngân bài ca quê hương.
Rồi sáng mồng Hai Tết năm ấy, tôi và bố tôi đã chuẩn bị bữa tết đầy đủ. Năm chiếc chiếu được trải dưới gốc nhãn chờ con cháu trên Hòa Bình về ăn Tết. Khoảng 9h30, ô tô đậu trước ngõ, chỉ thấy mình con trai cả của tôi lững thững bước vào và gãi đầu gãi tai mà rằng, chỉ có một mình con về thôi… Chắc không nói ra, nhưng cũng giống tôi, bố tôi vẻ mặt đượm buồn. Chả nhẽ lại mắng con ngay trong sáng mộng Một tết?. Tôi cố đưa cảm xúc của mình trở lại thăng bằng để vui bữa cơm Tết cùng bố và anh em, con cháu đang ở quê.
Khi không khí xuân trở lại, ly rượu xuân đượm nồng, tôi vui lên và cũng có ý nhắc con trai về quê hương bản quán. Tôi kể cho mọi người nghe chuyện con cháu trên Hòa Bình. Mỗi khi tôi nhắc, chủ nhật tuần này bố/ông cho các con/cháu về quê là bọn trẻ reo lên mừng vui và chỉ mong nhanh được về. Hôm sau, khi bố con/cháu chúng tôi xếp đồ lên xe để về quê thì trẻ con cùng phố cứ đứng nhìn với vẻ mặt thèm thuồng. Vì không ít đứa làm gì có quê, hoặc ở quê bố mẹ chúng không còn anh em, không còn ràng buộc nên cũng không có dịp đưa chúng về quê nữa…
Rồi tôi đọc lại vài lần và nói rõ xuất xứ bài thơ “Về quê” là từ việc quét lá nhãn ở sân nhà. Cây nhãn cổ thụ mang lại cho nhà ta bóng mát, thì việc chúng ta quét lá nhãn là cân thiết và đương nhiên. Cũng như quê hương, ông bà bố mẹ mang tình cảm, hơi ấm cho cháu con. Khi ông bà, bố mẹ già yếu, có khi lẫn thì con cháu đừng lấy làm phiền mà đối xử khác ý. Mặt khác, ở phố, nhà ống muốn có cái lá rụng mà quét cũng làm gì có! Và bài thơ được chuyển tứ, “có những chiếc lá khi rụng/lại không biết đậu vào đâu?” để chỉ người không có quê mà về thì thiệt thòi đến chừng nào. Vì các cụ đã có câu “Lá rụng về cội” mà!
Sáng hôm sau mồng Ba tết, tất cả từ vợ tôi, các con, cháu tôi đều có mặt ở quê. Con trai cả của tôi điện cho họ. Không ngờ bài thơ “Về quê” có hiệu ứng đến thế! Cảm ơn quê hương. Cảm ơn cây nhãn “các cụ”! Nay cây nhã nhãn nhà tôi đã được trang điểm trên thân những cụm phong lan rừng tôi mang từ Hòa Bình về. Dịp tết, những chùm hoa phong lan bung nở như những đôi khuyên tai, vòng vàng, dây bạc lấp lánh trên tai, trên cổ, trên tay…cây nhãn “các cụ” nhà tôi!
Lê Va








