Sống ở miền núi Hòa Bình nay là Phú Thọ đã ngót nửa thế kỷ, nhưng hàng chục năm nay, tôi đều về quê đón Tết. Tuy đã thành phường Phú Lương, Tp. Hà Nội, nhưng chất quê, lệ làng ở nơi tôi sinh ra vẫn đậm đặc. Tết là dịp con cháu quây quần và nhà nhà đi chúc tết cho khắp trong họ, ngoài làng. Đối với tôi, mấy ngày tết là thật thú vị khi được dọn dẹp, trang trí nhà cửa, rửa sân và tưới cây ngoài vườn. Và ấm áp biết bao những đêm được nằm bên người ông, người cha trong ngôi nhà cấp 4 chứa đựng biết bao kỷ niệm của gia đình. Ngôi nhà xoan, tre, mái ngói đã có 48 năm tuổi sử dụng. Ngôi nhà mà số tuổi của nó bằng với số năm tôi tạm biệt quê hương miền xuôi để đến với núi rừng Hòa Bình mờ xa khi đó.
Một ngôi nhà cấp 4 mà đã qua 48 năm sử dụng thì rõ ràng nay đã quá cũ. Tuy vậy, ngôi nhà của gia đình tôi không thể và chưa thể gọi là nhà cổ, vì tuổi của nó mới chỉ chưa đủ 50 năm. Và dù tuổi của nó có cao hơn nhiều nữa thì cũng không thuộc diện được gọi là nhà cổ vì nó giản dị đến khó ngờ. Tuy nhiên, ở một phường đông dân của quận Hà Đông, bê tông chen cứng, trẻ con sinh ra không còn biết cây tre, cây xoan… thì ngôi nhà cấp 4 của gia đình tôi trở thành của lạ.
Trong xu hướng đô thị hoá vài chục năm nay, mỗi khi về quê, tôi thường nghe chị gái, em gái của mình nói nhỏ: “Làng xóm người ta xì xào, ông này làm vương làm tướng ở đâu mà sao mãi không về làm lại nhà mà cứ để cái nhà cũ nát mãi thế!”. Nghe vậy, tôi nói, nhà cũ thì đúng, nhưng nát thì hoàn toàn không. Rồi tôi cười xòa, nó còn tốt mà!
Nói vậy, không phải không có lúc tôi và các con của mình nghĩ đến việc làm lại ngôi nhà này. Nhưng cứ nghĩ thay nó bằng một ngôi nhà xây mới thì những kỷ niệm tích tụ trong nó lại cuộn cuộn tràn về át đi cái sự cũ kỹ mà dân làng đang nhìn thấy ở ngôi nhà tôi. Điều tôi trăn trở ấy càng sâu đậm hơn mỗi khi đêm về nằm ngửa mặt nhìn lên từng nuộc mây buộc đòn tay trên mái nhà.
Không có tư liệu chính xác về làng Văn Nội có từ bao giờ, chỉ biết đây là một làng cổ. Họ nhà tôi có 5 chi, gia đình tôi thuộc vào chi thứ 5. Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã được ông nội nói cho biết cụ thứ 5 (trưởng chi nhà tôi) từ trong làng ra mảnh đất này (rìa làng) đã gần 100 năm, tới nay đã gần 150 năm và chưa một lần đổi chủ. Ở vào thế kỷ XX, trước nhà tôi những ao là ao, dấu tích của những thùng đấu, dân làng xưa lấy đất đắp lên đường đi, nền đình và nền chùa. Xung quanh nhà tôi là những luỹ tre ken dày ngày in bóng nắng, đêm đón trăng thanh. Những năm đế quốc Mỹ leo thang ném bom phá hoại miền Bắc, ông nội tôi khoét một hầm vòm hai cửa dài cả chục mét dưới luỹ tre, đủ cho cả nhà tôi trú ẩn tránh bom đạn. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không12 ngày đêm máy bay B52 thả bom xuống Hà Nội cuối năm 1972, cả nhà tôi ăn, ngủ trong hầm dưới luỹ tre này.
Năm 1964, bố tôi 27 tuổi, người con trai độc nhất của ông nội tôi khi đã có 4 con, do tổng động viên vẫn lên đường đánh Mỹ xâm lược. Ở hậu phương, chị em chúng tôi được ông bà và mẹ nuôi dưỡng. Vừa học phổ thông, chúng tôi vừa tham gia vật đất, đóng gạch, ngói rồi đốt lò dã chiến được trên một vạn gạch đỏ vừa A vừa B, trên một vạn tấm ngói mũi để chuẩn bị xây nhà.
Vào mùa hanh , ông tôi nhờ người chặt xoan quanh vườn, đẵn tre khắp búi, đóng bè chìm ngâm dưới ao nhà. Đủ ba năm, xoan ngâm vớt lên để khô, tre ngâm kéo lên chọn 3 cây lựa chiều cong phía lưng mà buộc chặt lại từ lúc còn mềm. Khi cây tre khô, cứng lại thì nó đã thẳng đuỗn ra để dùng làm đòn tay. Khi xoan vớt đã khô, ông tôi nhờ thợ mộc cắt ra thành cột cái, cột con, câu đầu, kẻ chuyền, xà đại, xẻ vì kèo, cột trốn…đẽo hết phần dác rồi xếp gọn lại ở hai hồi nhà. Đến giờ chúng tôi không thể nhớ ông cháu tôi bao lần khiêng số gỗ xoan này ra phơi cho khỏi ẩm. Thời gian gia đình tôi chuẩn bị nguyên liệu để làm nhà kéo dài hàng chục năm. Khi bố tôi về phục viên (1974) lại cùng gia đình chuẩn bị tiếp.
Gạch nung xếp gọn và che đậy cẩn thận không để mọc rêu. Xoan ngâm kỹ đã cắt thứ nào ra thứ ấy. Vôi tôi trước vài năm. Gay nhất lại là cát để xây. Thời gian đó, nguyên vật liệu xây dựng vô cùng khó khăn. Mọi thứ do nhà nước quan lý rất chặt chẽ. Những gia đình quê tôi xây nhà thời đó đều nhờ một người “nhanh nhạy” vào Mai Lĩnh móc ngoặc với chủ cát lậu và cánh lái xe để họ “đánh quả” cát sông Đáy rồi lén lút chở về bán. Xe cát về đến, người mua, người bán nhảy lên đo mét khối rồi nhanh chóng hất cát xuống để xe con chạy. Có những khi nhờ người chuẩn bị sẵn xẻng rồi chờ cả mấy ngày mới có một xe cát về, nhưng cát chưa xuống hết thì mấy anh cảnh sát từ Ba La xuất hiện, bắt lái xe nổ máy về đồn để lại sự chửng hửng cho gia chủ và người làm giúp.
Mùa thu năm 1976, gia đình tôi khởi công xây nhà trong nỗi vui mừng của cả họ, nhất là đám con trẻ chúng tôi. Hàng ngày, cứ đi học về là chúng tôi xà vào xem các bác thợ mộc đục đẽo. Hấp dẫn nhất là từng cây tre được dùng chàng thợ mộc khoanh thật nhẵn các mấu cho bằng với thân tre. Từng thanh tầu được đo thật chính xác với các đoạn tre để đục lỗ thật tròn, thật chuẩn sao cho từng đòn tay tre được nằm khít gọn xuyên qua các thanh tầu.
Riêng đòn nóc và câu đầu, mọi người chờ ông tôi nhờ người viết chữ mà chưa thấy ông tôi đả động gì. Một hôm nhân toán thợ nghỉ, ông tôi nói: Đa số các gia đình viết đòn nóc và câu đầu bằng chữ Nho. Ông nghĩ, viết chữ Nho giờ mình còn không đọc được, hỏi con cháu sau này biết chúng ta viết cái gì trên đó. Thế nên nhà mình cứ chữ quốc ngữ mà dùng. Rồi ông soạn chữ để tôi viết bằng mực tầu, bút tre (năm đó tôi đang học lớp cuối cấp 3, lớp 10/10). Đòn nóc viết chữ in hoa chân phương: “CẤT NÓC 6 GIỜ NGÀY 14 – 01-1977 GIA ĐÌNH TĂNG HẠNH PHÚC LAO ĐỘNG HƯỞNG VINH QUANG”. Trên đôi câu đầu viết chữ quốc ngữ trong từng vòng tròn. Bên phải ghi:THỪA PHÚC ẤM TỔ TIÊN, bên trái ghi “ĐỘI CÔNG ƠN ĐẢNG BÁC”. Hôm sau, cánh thợ và người làm giúp nhìn chữ viết trên đòn nóc và câu đầu nhà tôi ai cũng tấm tắc khen đẹp và ý nghĩa.
Công việc xây nhà diễn ra vài tháng trời theo kiểu công nhật tức là cơm nuôi và tính ngày công ra tiền. Cuối năm, ngôi nhà xây cấp 4 nhà tôi được khánh thành, nhưng phải vài năm sau thì mới có tiền làm cửa “một năm làm nhà ba năm làm cửa” mà.
Ngôi nhà cấp 4 cũ kỹ đang hiện diện ở quê do ba thế hệ chung tay đã và đang chất chứa biết bao kỷ niệm. Gạch, ngói đều nhào nặn từ đất vườn nhà rồi nung ra; toàn bộ xoan, tre đều chặt từ vườn do ông tôi trồng… Và hơn hết, ngôi nhà này đã mang hơi ấm của 5 thế hệ gia đình tôi. Chúng tôi công tác xa, nơi quê hương, ông nội rồi bố tôi hàng ngày đều đặn hương khói trên ban thờ trong ngôi nhà giản dị ấy. Nay, mỗi khi có dịp về thăm quê, tôi thường nằm bên bố trong ngôi nhà xoan tre mà bâng khuâng nhớ ông bà nội, nhớ mẹ tôi cùng bao kỷ niệm những năm chiến tranh, những ngày dài chuẩn bị cho việc làm nhà.
Năm 2018, từ Tp.Hòa Bình, bố con tôi về xây nhà ở quê. Nghe tin ấy, đôi ba người thở phào, có thế chứ, nhà ấy gan mãi sao được. Ấy là họ nghĩ một ngôi nhà hai, ba tầng sẽ thế chỗ ngôi nhà cấp 4 cũ kỹ của nhà tôi. Nhưng không, bố con tôi đã xây căn nhà một tầng kiểu mái Thái bên cạnh ngôi nhà cấp 4 mà tôi kể trên. Hàng ngày, bố tôi vẫn hương khói, vẫn ăn ở, sinh hoạt tại ngôi nhà cấp 4 này.
Ngôi nhà ngói ba gian ngoài, một gian buồng, hướng đông – nam nằm dưới tán cây nhãn cổ thụ nhà tôi đã không lọt thỏm giữa những ngôi nhà tầng mọc lên như nấm, bởi những kỷ niệm không phai mờ về nó trong gia đình chúng tôi. Chắc chắn ngôi nhà ấy không thể tồn tại mãi do chất lượng sử dụng của nó. Nhưng chừng nào nó còn sử dụng được thì nhà tôi tiếp tục sử dụng. Để mỗi khi tết đến, tôi lại trở về quê cùng bố tôi và người thân đón giao thừa trong sự ấm áp của gia đình, quê hương và cảm xúc trào dâng bởi hương hỏa nguồn cội. Trong khói tỏa hương trầm, tôi bâng khuâng nhìn những chiếc lá trên cây nhãn cổ thụ khe khẽ rời cành và nhẹ đậu xuống sân. Một mùa xuân nữa lại về. Ngôi nhà cấp 4 thân thương lại cùng chúng tôi có thêm tuổi mới!
Lê Va








